DVD “Sự Thật Về Hồ Chí Minh” : Phá Vỡ Một Huyền Thoại

DVD “Sự Thật Về Hồ Chí Minh” do Linh Mục Nguyễn Hữu Lễ thực hiện và được phát hành vào cuối tháng 7, 2009. LM Lễ cho biết mục đích của DVD này là để “phá vỡ huyền thoại về Hồ Chí Minh”, cho mọi người thấy HCM không phải là một con người huyền thoại như được tô vẽ. HCM đã chọn một chủ thuyết ngoại lai, quyết định đi theo con đường cách mạng vô sản do Karl Marx và Lenin chủ xướng, tân tâm, tận lực với phong trào Quốc Tế Cộng Sản và vì thế đã hủy diệt mọi di sản văn hóa quý báu của dân tộc Việt, đưa đất nước và con người Việt Nam trải qua hai cuộc chiến tranh đẫm máu và ngày nay đang bên bờ vực thẳm : nước thì mất độc lập, tự chủ; dân thì mất tự do, không được hưởng hạnh phúc. Như vậy HCM còn đáng bị coi là tội đồ của dân tộc Việt. Sau khi DVD này được phát hành, đã có các dư luận trái ngược nhau: đa số người Việt tỵ nạn Cộng sản ở hải ngoại hài lòng với cuốn phim tài liệu đầu tiên nhằm bạch hóa một số sự kiện về con người của HCM. Cũng có một thiểu số không hài lòng, lên tiếng chỉ trích nặng nề, thậm chí còn kết án nhóm thực hiện phim là “ tô vẽ cho huyền thoại HCM đẹp đẽ hơn” (?). Tôi đã xem cuốn phim này và có một số suy nghĩ như sau:

1- Việc “tẩy trừ huyền thoại về HCM” có cần thiết hay không?

Trong cộng đồng các người Việt tỵ nạn Cộng sản, những người đã phải bỏ nước ra đi, chịu bao hy sinh và tủi nhục để mưu tìm một cuộc sống tự do nơi xứ người, cái tên HCM gắn liền với tội ác của Cộng sản. Nỗi bất hạnh lớn nhất của dân tộc Việt Nam khởi đầu từ việc HCM đã chọn lựa chủ nghĩa Cộng sản để xây dựng và phát triển đất nước. Chính HCM và đảng Cộng Sản Việt Nam (CSVN) là nguyên nhân khiến một số lượng đông đảo người Việt 2 lần đã phải bỏ nơi chôn nhau cắt rốn, người thân và tài sản để ra đi tìm tự do: lần thứ nhất từ Bắc vào Nam năm 1954 và lần thứ hai từ Nam Việt Nam đến các nước tự do khắp thế giới. HCM và đồng đảng là thủ phạm của cuộc tắm máu nông dân miền Bắc qua Cải Cách Ruộng Đất (1953-1956) và là kẻ chủ xướng cuộc chiến tranh xâm lược miền Nam (1954-1975). Sau 30 tháng 4, 1975, ngày miền Nam VN mất vào tay CS, một trang sử đen tối mở ra cho quân, dân miền Nam vì chính sách trả thù tàn bạo của những kẻ mang danh “quân giải phóng”. Tóm lại, hình ảnh HCM và lá cờ máu đại diện cho Đảng Cộng Sản VN gợi lại bao kỷ niệm đau thương trong lòng người dân Việt yêu chuộng tự do, đang sống tỵ nạn CS tại hải ngoại. Họ phẫn nộ khi nhìn thấy hình ảnh của tên tội đồ này xuất hiện trong cộng đồng của ho. Chúng ta hẳn vẫn còn nhớ phản ứng của người Việt tỵ nạn CS tại Nam California năm 1999 khi tên Trần Trường treo hình HCM và lá cờ máu trong cửa tiệm của hắn ở thành phố Westminster. Họ biểu tình liên tục trong 53 ngày đêm cho đến khi các biểu tượng của CS bị quét sạch khỏi Little Saigon, thủ đô của người Việt tỵ nạn. Họ đốt hình nộm của Hồ và dẵm đạp lên lá cờ máu của đảng CSVN. Sự phẫn nộ của họ có thể hiểu được vì họ và gia đình đã từng là nạn nhân của Cộng sản bạo tàn. Đầu năm 2009, tượng Hồ và lá cờ máu của CSVN lại xuất hiện trong 1 cuộc “triển lãm nghệ thuật” do nhóm VAALA ở Nam California thực hiện. Hành động này được đánh giá là 1 sự khiêu khích cộng đồng nên các người Việt tỵ nạn CS lại tổ chức biểu tình phản đối và kết quả biểu tượng CS lại phải bị tháo gỡ, cuộc triển lãm bất thành! Tóm lại, HCM là một hình ảnh xấu xa đối với người dân Việt tỵ nạn CS. Họ coi HCM là kẻ thù, là nguồn gốc của mọi bất hạnh của dân Việt kể từ khi ông ta cướp được chính quyền tại Bắc VN vào năm 1954 và áp đặt chủ nghĩa Cộng Sản trên toàn đất nước VN sau tháng 4, năm 1975.

Tuy nhiên, hiện nay tại quê nhà, nơi đảng CSVN vẫn còn đang thống trị đất nước, HCM là một lãnh tụ đã được tôn vinh lên hàng thần tượng. HCM chết năm 1969; xác ông ta không đem chôn mà đã được ướp và bảo quản tại lăng ở quảng trường Ba Đình, có cả một đội quân hùng hậu canh giữ và dân chúng thì xếp hàng dài để được vào chiêm ngưỡng và tôn kính “Bác”. Ông ta được gọi là “cha già dân tộc”. Trẻ nhỏ được dạy dỗ thành “cháu ngoan Bác Hồ”, phải làm “5 điều Bác Hồ dạy”. Công dân trong nước được giáo dục là phải “học tập và làm theo gương Bác Hồ vĩ đại”. Các nhạc sĩ cũng phải sáng tác các bài hát để vẽ ra những hình ảnh thật đẹp về “Bác” như “ Lãnh Tụ Ca”, “Hồ Chí Minh Đẹp Nhất Tên Người”, “Như Có Bác Hồ Trong Ngày Vui Đại Thắng”…. HCM được tô vẽ như một vị cứu tinh của dân tộc (huyền thoại Bác Hồ phải vất vả ra đi tìm đường cứu nước…). Thậm chí HCM còn được coi là một vị bồ tát nữa! Hiện nay tại tỉnh Bình Dương, Nam VN có một ngôi chùa mang tên Đại Nam Quốc Tư. Nơi đây,ï tượng HCM được đem thờ ở chánh điện chung với Đức Phật Thích Ca và Đức Quốc Tổ Hùng Vương.

Vậy người Việt chúng ta tuy cùng chung 1 nòi giống, nói cùng 1 ngôn ngữ nhưng có cái nhìn khác hẳn nhau về cùng 1 nhân vật: HCM. Ai đúng và ai sai? Ai nói đúng sự thật và ai che giấu sự thật? Muốn điều mình nói có sức thuyết phục đối với người nghe, chúng ta phải nêu ra các bằng chứng cụ thể. Một khi sự thật được phơi bày, các huyền thoại sẽ tan biến, người nghe sẽ tin điều chúng ta nói; tư tưởng và hành động của họ chắc chắn phải thay đổi.

Ông Duyên Lãng Hà Tiến Nhất, trong bài viết nhận định về DVD của LM Lễ , có ý kiến như sau “ …trên thực tế, từ trong nước đến hải ngoại, người Việt yêu nước, ai ai cũng biết Hồ Chí Minh là một tên Việt gian bán nước, tội ác ngập đầu. Đồng ý, đảng CSVN và tà quyền VC vẫn ngày đêm thêu dệt không biết bao nhiêu huyền thoại về HCM. Nhưng những huyền thoại đó không bao giờ đi vào tim óc của người dân Việt yêu nước thì hà cớ gì chúng ta phải lo chuyện “tẩy trừ”?” Lý luận này thật sai lầm vì việc tạo ra huyền thoại về HCM là có thật, đãù trở thành một điều CSVN cần phải làm để có chỗ dựa cho hệ thống toàn trị của chúng sau khi chủ nghĩa Mác- Lê đã bị lịch sử đào thải tại Liên Sô và Đông Âu. Chúng đang cố gắng thay thế ý thức hệ Mác- Lê bằng cái gọi là tư tưởng Hồ Chí Minh. Việc tô vẽ huyền thoại HCM thật là tai hại cho nhiều thế hệ người Việt, nhất là cho giới trẻ là những người sinh ra sau khi chiến tranh chấm dứt. Kể từ khi CSVN nắm lấy quyền cai trị miền Bắc năm 1954, người dân miền bắc không có điều kiện tiếp cận với sự thật. Sống trong một xã hội chuyên chính, mọi sự thật đều bị bưng bít, họ chỉ biết chấp nhận và tuân theo. Mọi điều phúc lợi có được, theo họ đều là “nhờ ơn Bác và Đảng”. Phải nói là đại đa số người dân Việt trong nước vì không có điều kiện để tìm hiểu sự thật vẫn còn tin vào cái huyền thoại về HCM do chính ông ta và đồng đảng thêu dệt ra. Niềm tin mù quáng này thật tai hại vì tư tưởng sai sẽ dẫn đến hành động sai. Nếu tin HCM là “người yêu nước, thương dân, hy sinh cả cuộc đời cho đấu tranh giải phóng dân tộc”, họ tự thấy có bổn phận phải bảo vệ “di sản quý giá” do HCM để lại. Họ sẽ thực lòng tin tưởng vào “con đường cách mạng” do HCM và Đảng của ông ta vạch ra và chấp nhận hy sinh. Cả triệu thanh niên nam, nữ miền bắc đã lao vào cuộc chiến tranh”chống Mỹ cứu nước để giải phóng miền Nam” (1954-1975). Vài năm sau 1975, nhiều ngàn người cũng đã phải hy sinh tại chiến trường Kampuchia để CSVN hoàn thành nghĩa vụ quốc tế của chúng. Cũng có một số người nhìn ra sự sai lầm của Đảng CSVN nhưng số người can đảm dám nêu ra sai trái của HCM và Đảng CS không có bao nhiêu. Có thể nói đại đa số người dân trong nước vì muốn yên thân nên không dám tìm hiểu sự thật và do đó “không biết” hoặc có biết rồi cũng “không dám nói”. Do đó, người Việt tỵ nạn CS tại hải ngoại phải là lưc lượng chính trong việc thu thập tài liệu, hệ thống hóa các tài liệu này thành một tài liệu lịch sử mang tính thuyết phục cao để phơi bày mọi sự thật, làm tan biến đi các huyền thoại về HCM đang ngự trị trong đời sống người dân Việtï trong nước, giúp xoay chuyển lịch sử nước nhà.

Việc “tẩy trư”ø huyền thoại về HCM do đó là một nhu cầu có thật và cấp bách đối với tất cả chúng ta, những người dân Việt yêu nước, thương nòi. Cộng đồng của chúng ta là một cộng đồng nhỏ bé, chỉ gồm khoảng 3 triệu người lại sống rải rác khắp 5 châu, khó có điều kiện tập họp vì hoàn cảnh sinh sống còn nhiều khó khăn. Nhân lực và tài lực của chúng ta còn hạn chế lại luôn luôn bị CS và tay sai phá hoại, chia rẽ. Trong khi đó kẻ thù của chúng ta, CSVN, đã chiếm được cả nước, nhân lực và tài lực dồi dào, quyền lực thì vô hạn và thủ đoạn lại khó lường. Công việc tẩy trừ huyền thoại về HCM quảø không phải là một công việc dễ dàng nhưng chúng ta vẫn phải can đảm đứng lên nhận lãnh trách nhiệm vì đồng bào của chúng ta ở trong nước không có điều kiện để làm công việc này.

2- DVD “Sự Thật Về Hồ Chí Minh” đã thực hiện được những điều gì?

Nhóm làm phim đã thu thập và trình bày nhiều hình ảnh về cuộc đời của HCM, thực hiện nhiều cuộc phỏng vấn các nhân vật thuộc cả hai phía: Việt Nam Cộng Hòa (Nam VN) và Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa (Bắc VN). Người được phỏng vấn gồm các nhà nghiên cứu sử học, học giả, ký giả, nhà văn, nhà báo, nhà biên khảo, chính trị gia, cựu đảng viên cộng sản, du học sinh…người Việt cũng như người ngoại quốc, già cũng như trẻ… Họ nói ra những điều họ tìm thấy và biết được về HCM, những điều không bao giờ được tiết lộ trong các tài liệu của Đảng CS, những điều mà người dân trong nước không bao giờ được phép tìm hiểu và loan truyền.

DVD cho chúng ta một bản sơ lược về cuộc đời HCM: tên thực là gì, được biết đến qua các tên gì, thân phụ là ai, làm gì, thưở thiếu thời đã làm những công việc gì, tại sao có mặt ở nhiều quốc gia từ Âu sang Á, có vai trò gì trong các biến cố lịch sử quan trọng của nước nhà như Cải Cách Ruộng Đất tại miền Bắc, Tổng Công Kích Tết Mậu Thân 1968 tại Nam VN…, các chặng đường hoạt động của HCM, đi những đâu, tiếp xúc với những ai, làm những việc gì tại ngoại quốc và Việt Nam…

Ngoài việc thu thập hình ảnh và phỏng vấn các nhân vật, nhóm làm phim còn thực hiện việc dẫn giải và bình luận phục vụ cho chủ đề của cuốn phim. Qua hình ảnh được trưng bày, qua lời phát biểu của các nhân vật được phỏng vấn và qua các lời dẫn giải, nhận định, khán giả có thể tự mình tìm ra câu trả lời cho một số điều mình thắc mắc.

DVD đã làm rõ sự tương phản giữa sự thật và huyền thoại sau đây về HCM:

- HCM không phải là người sống độc thân, không vợ con để dành hết thì giờ cho cách mạng giải phóng dân tộc; ông ta có vợ, nhiều nhân tình, có con thậm chí còn có rất nhiều vợ (Tăng Tuyết Minh, Nguyễn Thị Minh Khai, Nông Thị Xuân…)

- HCM không phải là người khiêm tốn, giản dị; ông ta đã viết sách để ca tụng chính mình ( các sách “Những Mẩu Chuyện về Đời Hoạt Động Của Hồ Chủ Tịch”, ký tên là Trần Dân Tiên, “Vừa Đi Đường Vừa Kể Chuyện” , ký tên T. Lan đều do chính HCM viết)

- HCM không phải là người nhân nghĩa, đạo đức; ông ta đã giết vợ và bỏ con không nuôi dưỡng ( Vợ là Nông Thị Xuân bị giết chết, còn con trai là Nguyễn Tất Trung sau phải đổi tên là Vũ Trung và cho người khác nuôi)

- HCM không phải là một người lương thiện; ông ta lấy thơ của người khác và nhận là của mình ( Cuốn thơ “Ngục Trung Nhật Ký” không phải do HCM viết ra).

- HCM không phải là một người yêu nước; ông ta không cộng tác với các nhà ái quốc thuộc đảng phái quốc gia mà thẳng tay giết hại họ ( Bán đứng cụ Phan Bội Châu cho thực dân Pháp, giết hại Phạm Quỳnh, Tạ Thu Thâu vì họ không cùng đường lối với ông ta)

- Phụ thân của HCM không phải từ quan vì không muốn làm việc cho giặc Pháp mà vì phạm tội ngộ sát nên bị bãi chức.

- HCM không phải là người thương dân; ông ta sẵn sàng hy sinh mạng sống của người khác để phục vụ cho đường lối chính sách của mình ( thực hiện cải cách ruộng đất theo kiểu Tàu Cộng khiến cả trăm ngàn nông dân vô tội miền bắc chết thảm, gia tài sản nghiệp bị tịch thu, con cháu bị trả thù, bỏ đói…) Nhà báo Ba Lan Robert đã phát biểu: “HCM là một người diệt chủng, có tội với dân tộc mình.”

- HCM không phải là 1 lãnh đạo sáng suốt; ông ta chọn lầm đường khiến cả nước triền miên sống trong chiến tranh và đói khổà ( không chọn liên kết với các nhà ái quốc trong nước để giành độc lập cho nước nhà mà lại chọn theo đường lối cách mạng vô sản do quốc tế CS chủ trương)

- HCM không có công cứu nước; ông ta đã bán nước cho Cộng Sản Nga, Tàu (hoạt động nhiều năm trong các tổ chức Cộng Sản tại Pháp, Nga, Tàu, Đông Dương…)

- HCM không có công xuất ngoại để tìm đường cứu nước; ông ta lên tàu xuất dương để tìm kế mưu sinh và chính trong thời gian ở nước ngoài ông ta đã bị mê hoặc bởi chủ nghĩa CS và trở thành 1 đảng viên CS quốc tế. Nhà báo Olivier Todd nhận xét:”HCM là một tín đồ CS cuồng tín.”

- HCM không có công cứu nước; ông ta phạm tội bán nước cho Tàu cộng vì ngay từ năm 1958 ông đã để Phạm Văn Đồng với tư cách là thủ tướng ký công hàm xác nhận chủ quyền của Trung quốc đối với 2 đảo Trường Sa và Hoàng Sa. Việc mất đất vùng biên giới và mất biển đang xảy ra ngày nay đã là bằng chứng rõ ràng của việc bán nước này.

- HCM không phải là nhà tư tưởng, nhà văn hóa: ông ta không hề có một hệ tư tưởng riêng mà chỉ rập khuôn các tư tưởng sẵn có của người khác.

3- DVD “Sự Thật Về Hồ Chí Minh” có thực hiện được mục đích đề ra là “phá vỡ huyền thoại về HCM” hay không?

Muốn đánh giá về hiệu quả của bộ phim tài liệu này, chúng ta cần đo lường phản ứng của các khán giả trong và ngoài nước. Phải công bằng mà nhận xét là cuốn phim đã được đón nhận nồng nhiệt tại các cộng đồng người Việt hải ngoại. Tại các buổi chiếu phim ra mắt, đồng hương Việt tham dự đông đảo, tạo ra một không khí phấn khởi và đoàn kết. Mọi người cùng nhau chia sẻ những kinh nghiệm đau thương mà chính bản thân, gia đình họ hay đồng bào họ đã trải qua và tâm nguyện sẽ góp công lẫn của để DVD này được quảng bá rộng rãi khắp mọi nơi trên thế giới, từ hải ngoại đến trong nước, đến mọi tầng lớp nhân dân, để sự thật về HCM được phơi bày, để lịch sử được nhìn lại một cách đúng đắn. Đa số khán giả xem phim xong đều hài lòng vì cuốn phim tuy chưa đầy đủ nhưng đã thực hiện được bước đầu gian nan của một công trình khó khăn nhưng rất cần thiết. Ở hải ngoại, sách và tài liệu về HCM và Đảng CS của ông ta có rất nhiều nhưng mấy ai có đủ thì giờ, đủ kiên nhẫn và hứng thú để đọc cả trăm trang sách khô khan hay nghiên cứu tại các thư viện và bảo tàng viện để biết được sự thật. Nay chỉ cần gần 2 tiếng đồng hồ khán giả có thể ngồi xem cuốn phim này và có một ý niệm đúng về HCM, giải trừ các huyền thoại do chính ông ta và đồng đảng tô vẽ nên. Chính người dân trong nước cũng phải công nhận DVD này giúp cho họ có được một số thông tin mới. Đây chính là điều kiện cần để họ có được một cái nhìn khách quan về ông HCM, một nhân vật mà cuộc đời vẫn còn bị bao trùm bởi rất nhiều tấm màn che và vẫn tiếp tục được tôn vinh như một nhân vật huyền thoại. Trong DVD có phần phỏng vấn 1 du học sinh VN ở Đông Âu, cô cho biết gia đình cô cứ đến ngày 19 tháng 5 (ngày được cho là sinh nhật của HCM) là đều thắp nhang để tưởng nhớ đến ông Hồ.

Đảng CSVN phản ứng ra sao đối với bộ phim này? Sau khi DVD “Sự Thật Về HCM” được phổ biến trên các diễn đàn internet, người dân trong nước đã có dịp được xem và CSVN đã cho phổ biến bài viết “Những Thước Phim Trái Đạo Lý, Trái Sự Thật” để phản bác. Tác giả bài viết kết án bộ phim , cho nó là “xuyên tạc sự thật và trái đạo” mà không nêu được bằng chứng nó sai ở chỗ nào và trái đạo ở chỗ nào. Bài viết còn ghi nhận nhóm thực hiện DVD có mục đích là “làm suy yếu và làm sụp đổ chế độ CS hiện hữu”. Rõ ràng DVD này đã góp phần quan trọng trong việc thay đổi cái nhìn của người dân trong nước đối với lãnh tụ tối cao của họ là HCM. Chúng ta cần ý thức 1 điều là Đảng CSVN coi HCM là chỗ dựa vững chắc cho chế độ của chúng. Chúng có thể chấp nhận cho người dân hay đảng viên chỉ trích đường lối chính sách của Đảng, phê bình các việc làm sai trái của các lãnh đạo trong đảng nhưng không bao giờ chấp nhận việc chỉ trích HCM. Đây là điều cấm kỵ. Trần Khuê, một đảng viên CS tuy có tư tưởng muốn dân chủ hóa việc cai trị của Đảng vẫn gọi HCM là “Đức Thánh Hồ”. Dương Thu Hương, một nhà văn đối kháng nổi tiếng trong và ngoài nước, đã từng viết nhiều chuyện phê bình chế độ xã hội chủ nghĩa, gọi nó là “thiên đường mù“nhưng vẫn coi HCM là “đỉnh cao chói lọi”. Bà này ra rả chửi các lãnh đạo chóp bu CS bằng những lời lẽ rất nặng nề mà có dám chửi HCM bao giờ đâu! Điều đó cho thấy HCM đóng một vai trò quan trọng như thế nào trong việc duy trì chế độ độc tài toàn trị tại VN hiện nay. CSVN cần cho mọi người thấy nhân vật HCM là “người yêu nước chân chính, đã có công cứu nước, giành độc lập cho nước nhà và con đường HCM chọn lựa là con đường đúng đắn sẽ mang lại cơm no, áo ấm cho người dân Việt”.

Trong thời gian chiến tranh thật khó cho chúng ta phá vỡ huyền thoại về nhân vật này vì guồng máy tuyên truyền tinh vi của CS, vì giới truyền thông và phong trào phản chiến tại Mỹ tiếp tay với kẻ thù của chúng ta . Mọi người không có dịp tìm hiểu sự thật về chiến tranh VN, không hiểu rõ con người thật của HCM. Báo Star Tribune, Minneapolis, Minnesota ngày 11 tháng 7, 2009 có đăng lời phát biểu ý kiến của một độc giả Mỹ về vai trò của McNamara, cựu bộ trưởng quốc phòng Mỹ thời chiến tranh VN. McNamara vừa chết vào tháng 6, 2009. Trong bức thư này, độc giả người Mỹ kết án vai trò của McNamara, cho chính phủ Mỹ đã sai lầm khi tham chiến tại VN và còn cho HCM là một “con người vĩ đại” nữa (a great man). Nhưng 34 năm đã trôi qua, nhiều biến cố trong và ngoài nước đã giúp chúng ta có điều kiện vạch ra bộ mặt thật của HCM, cho mọi người trong cũng như ngoài nước thấy HCM chỉ là một con người giả trá, vô đạo đức, không phải là người yêu nước chân chính và có công cứu nước như được tô vẽ mà đơn thuần chỉ là một đảng viên CS cuồng tín, sẵn sàng hy sinh nước Việt và dân Việt cho mộng bành trướng của đế quốc Đỏ CS.

Theo ông Duyên Lãng HTN, DVD của cha Lễ chỉ nêu ra những sai phạm cá nhân của HCM mà ông cho là “thường tình” như nói láo, ăn cắp thơ, viết sách tự ca tụng mình, thiếu thành thật… mà không nêu được tội ác lớn nhất của HCM là tội bán nước cho nên ông sợ khán giả xem xong sẽ “không ghét HCM vì các tật xấu của ông này mà vẫn phải ghi nhận công lao to lớn “cứu nước” của ông ta. Ông HTN cho rằng DVD của cha Lễ không tẩy trừ được huyền thoại về HCM mà lại còn “remodel” cho nó và như thế là đã góp phần cho việc “chạy tội cho HCM” (?!) Đây là một nhận xét đầy ác ý, không mang tính cách xây dựng của một người đã từng viết nhiều bài báo khiến người ta tưởng ông là người thực tâm chống Cộng . Ông đã có những lời lẽ xúc phạm trực tiếp đến cha Lễ, một vị linh mục đã từng bị CS giam tù nhiều năm trong các trại tù từ nam cho đến bắc, đã bị chúng tra tấn, đánh đập dã man vì không chịu khuất phục chúng, một người sau khi ra khỏi tù CS đã thấy như mình vừa được tái sinh nên tâm nguyện “sẽ dành cả quãng đời còn lại của ngài để cho mọi người hiểu rõ bản chất của con người CS và để cho không ai còn bị cái ác của chúng đầy đọa nữa”.

Nhận xét của ông HTN còn cho thấy ông quá coi thường khán giả. Ông nghĩ là họ không đủ trình độ để hiểu đúng về HCM qua bộ DVD này và đó là trách nhiệm của những người thực hiện phim.

Sau khi xem DVD “STVHCM” của cha Lễ, cũng giống như nhiều đồng hương Việt tỵ nạn CS, tôi không có cái suy nghĩ như ông HTN. Tuy DVD có lời phát biểu không thích hợp của một vài nhân vật, tôi không cảm thấy “chán nảøn, thất vọng và buồn” như ông HTN mà thực sự vui mừng, xúc động vì vẫn còn một số người có tâm huyết và có lòng can đảm đã bỏ thì giờ, công sức và tiền bạc làm nên một tài liệu lịch sử giúp cho việc phản bác lại các tài liệu tuyên truyền láo khoét do CS tung ra để lừa bịp người dân Việt cũng như cộng đồng quốc tế. Phần cuối của DVD nhận định:” Chủ nghĩa CS đã phá sản tại Liên Sô và tại các nước Đông Âu. Tại sao chủ nghĩa này còn tồn tại ở VN? Một trong những lý do của sự tồn tại này là Đảng CSVN đã biết sử dụng huyền thoại về HCM như một hòn đá tảng, làm chỗ dựa cho Đảng, giúp Đảng còn duy trì được chỗ đứng trong lòng dân tộc.” Vậy “phá vỡ huyền thoại về HCM” là góp phần vào việc hất đổ hòn đá tảng đó để khai thông sinh lộ cho nước nhà.”

Việc phá vỡ huyền thoại về HCM là một công việc cần đến sự nỗ lực của nhiều người, đòi hỏi chúng ta phải có lòng can đảm nhập cuộc và kiên trì.. CSVN có quyền lực và tiền bạc dồi dào trong tay. Chúng có cả 1 bộ máy tuyên truyền tinh vi, nhiều kinh nghiệm và còn có 1 lực lượng tay sai đông đảo hiện diện ngay trong hàng ngũ những người Việt tỵ nạn CS tại hải ngoại. Những người này một thời là những người Việt phải bỏ nước ra đi để tỵ nạn CS nhưng ngày nay, sau khi cuộc sống tại nước tạm dung đã tạm ổn định, vì quyền lợi làm cho tối mắt đãø sẵn sàng theo hỗ trợ cho VC, phản bội lại quyền lợi của những người Việt tỵ nạn CS. Kẻ phản bội thời nào và ở đâu cũng có. Chúng ta không sợ chúng nhưng cần cảnh giác để không mắc mưu gian và vô tình làm lợi cho CS. Hơn bao giờ hết chúng ta cần sáng suốt để nhận định đúng, hành động đúng và kịp thời. Những luận điệu chỉ trích thiếu xây dựng, những chụp mũ ác ý tại thời điểm này đều không có lợi cho công cuộc dân chủ hóa nước nhà và vô tình làm lợi cho CS. Huyền thoại về HCM đã được tô vẽ trong nhiều thập kỷ qua, chúng ta có thể kỳ vọng chỉ 1 cuốn DVD dài chưa đến 2 tiếng đồng hồ thực hiện bởi những người làm phim không chuyên nghiệp đứng đầu lại là 1 nhà tu hành, trong tay không có 1 vũ khí và không tiền bạc, tài sản .. sẽ thực hiện được tất cả những gì chúng ta mong đợi ư? Đây là một điều kỳ vọng không hợp lý. Thay vì chỉ trích nặng nề đầy ác ý, chúng ta nên xắn tay áo cùng làm việc. Người biết rồi thì nói cho người chưa biết; ai biết nhiều thì nói cho người còn biết ít. Mỗi người trong phạm vi khả năng của mình nên làm một cái gì hữu ích cho công việc chung của cộng đồng. Trước mắt, chúng ta có thể góp công và góp của cho việc phổ biến DVD này đến tất cả mọi người Việt tại hải ngoại và nhất là đến những đồng bào của chúng ta trong nước, những người đang phải sống trong 1 chế độ khủng bố, không có 1 chút quyền tự do nào. Làm việc này chúng ta hy vọng họ có cơ hội nhìn ra được sự thật và ý thức mới của họ sẽ giúp xoay chuyển thế cuộc trong nước. Họ mới chính là lực lượng chính trong công cuộc giải thể chế độ bạo quyền CS, đưa dân tộc đến 1 khúc quanh của lịch sử. Chúng ta ở hải ngoại chỉ là lực lượng hỗ trợ nhưng là lực lượng cần thiết để làm chỗ dựa vững chắc cho họ. Bức tường Bá Linh muốn giật sập đã cần đến công sức của bao nhiêu người và cần 1 thời gian bao lâu? Phải mỗi người một nhát búa, đập liên tục vào bức tường ô nhục này, CS Đông Âu mới phải đầu hàng. Hiện nay chúng ta cũng đang phải làm công việc khó khăn này để cứu lấy quê hương trước nguy cơ mất nước vào tay Tàu cộng. Việc phá vỡ huyền thoại về HCM là một việc làm cần thiết để chúng ta góp phần vào việc giải thể chế độ Cộng sản tại quê nhà.

” Có trung hiếu nên đứng trong trời đất” NCT.

226 Responses to DVD “Sự Thật Về Hồ Chí Minh” : Phá Vỡ Một Huyền Thoại

  1. cho dù ai đó có cố tình bẻ cong sự thật cũng không che mắt được những người yêu chuộng hòa bình, hãy thực tế đi. đừng đứng bên kia quả địa cầu mà hò hét kẻo bị xếp vào loại thiểu năng trí tuệ, làm trò cười cho thiên hạ, thời kỳ mỹ đưa quân sang xâm chiếm Việt Nam, chính những người dân mỹ yêu chuộng hòa bình đã đứng lên biểu tình chống chiến tranh Việt Nam của nhà cầm quyền mỹ, thật đáng thương cho những kẻ vô minh u tối viết tiếng mẹ đẻ mà không rành thì hiểu được cái gì ?. Việt Nam đang từng bước chuyển mình sánh vai với các cường quốc trên thế giới, nhìn sự phát triển của Việt Nam ngày hôm nay cả thế giới đều công nhận.
    Bài viết của chú Nhật Minh cháu rất tâm đắc , đúng là “…Những tâm hồn thấp kém không thể hiểu thấu các bậc vĩ nhân, cũng như kẻ nô lệ nhe răng cười khi nghe hai tiếng tự do” mà không biết nhục.

  2. các bạn có ý kiến bảo vệ Đảng cộng sản thì cho ý kiến dẩn chứng. chứ văng tục chửi thề chỉ làm người khác đắnh giá thấp trình độ các bạn, mà trình độ các bạn thấp thì ý kiến các bạn giá trị cũng thấp thôi.
    các bạn nên nhận định thông tin theo nhiều chiều chứ k nên trước giờ nghe tốt về ai là đều tin xái mắt như vây. phải có sự hoài nghi về điều người khác nói. mình xin hết.

  3. xem các pác chửi nhau đã quá.haha….cùng một dân tộc mà cấu xé nhau như chó điên vậy, đúng là một lũ ngu lâu dốt bền khó đào tạo mà còn mất dạy vô liêm sỉ nữa. cứ chửi nhau đi, cấu xé nhau đi rồi mấy cái thằng ngoại quốc được cơ hội ngồi đó xem kịch mà còn được ngư ông đắc lợi nữa……
    THẰNG CHÓ NÀO CÓ GIỎI THÌ GỬI MEO CHO TAO, TAO TIẾP HẾT.
    ĐẦU ÓC NGU SI TỨ CHI BẠI LIỆT……….VIỆT ANM ĐÃ THỐNG NHẤT RỒI, TỔ QUỐC ĐÃ YÊN BÌNH, SAO CHÚNG BÂY CÒN MƠ TƯỞNG ĐIÊN KHÙNG LÀM MẤT ĐOÀN KẾT DÂN TỘC, QUẤT NHIỄU AN NINH QUỐC GIA THÌ ĐƯỢC CÁI CỨT GÌ. MIỆNG NÓI LÀ YÊU NƯỚC MÀ TỐI NGÀY KIẾM CỚ LÀM NHỤC ĐẤT NƯỚC THÌ CÓ THẰNG KHÙNG MỚI TIN THEO TỤI MÀY.
    MỘT LŨ HÈN MẠT BỎ NHÀ, BÁN NƯỚC CHẠY ĐI BỎ XÚ, TRỜI ĐẤT KHÔNG DUNG NHƯ TỤI BÂY CÓ NGÀY HÔM NAY LÀ DO CHÍNH TỤI MÀ LÀM KHỔ CHÍNH MÌNH, LÀM KHỔ THẾ HỆ SAU NÀY CỦA BỌN MÀY MÀ CÒN RÊU RAO BA CHỮ”TAO YÊU NƯỚC” KHÔNG THẤY NHỤC NHƯ CỤC CỨT HAY SAO……HAHAHAHA..HA CHỬA BỌ HÈN HẠ NÀY ĐÃ MIỆNG QUÁ….XẢ ĐƯỢC CHÚT STRESS……….!!!!!

  4. CAI TRO “BAC HO “KHONG CON AI TIN NUA ROI! CHI CO LOAI GIOI BO CSVN TAI LANG BA DINH THEM CAI XAC THUI HO CHO MINH DAI DAM DAI AC DE TON TAI MA THOI !!!

  5. Đã xem DVD rồi.
    Kết luận chung là Không có tính thuyết phục về cả: Khoa học, lịch sử và đạo đức.

    “Communist or not, Ho Chi Minh will probably go down in history as a great Vietnamese patriot who was one of the extraordinary world figures of this century. Selfless, courageous, dedicated to Vietnamese independence at all costs, he wrestled France to her knees and fought the United States, the world’s mightiest power, to a military stalemate.

    His single mind resolution changed the course of history, polarized public opinion in the United States, forced an American President to withdraw from seeking a second term, and radicalized millions of admiring youth around the world who demonstrated in his support chanting, “Ho, Ho, Ho Chi Minh”.

    Ho’s unique mixture of Marxism, paternalism, and intense nationalism was enormously successful in inspiring tremendous sacrifice among his people. They also loved “Bac Ho” (Uncle Ho) for his winning personal modesty and gentle ways. Ho was the despair of all his enemies – the French, the Saigon regime, the Americans – because they were unable to muster hatred of him. He was held in as much affection in South Vietnam as among the people he led in the North.

    Not the least of his great achievements was that he had, like Tito, achieve a “national Communism” which kept his country out of the grip of both Red China and the Soviet Union, while he skillfully played one off against the other to get the help his country needed. When he died, North Vietnam was no satellite but a proud, independent country, determined on nationhood for all Vietnamese…

    When the books of his life are balanced, and peace is finally restored to the tragic land of Vietnam, Ho Chi Minh will always be known to the peasants who loved and followed him as the greatest Vietnamese in their history – the revere uncle of his country”

    Trích: Ho Chi Minh: Legend of Hanoi by Jules Archer

  6. Bọn chó săn điên khùng

    Xem lũ chó đang sủa kìa.. ha…ha… Chúng mày là ai mà dám nói những từ như : dân tộc Việt Nam, bán nước, tay sai bọn tàu, … Nói ra những câu nói đó mà không thấy nhục hả, không nhận thấy chúng mày đang tự chửi mình, chửi ông bà, cha mẹ, họ hàng… của chúng mày à ? Nhìn lại mình đi: chúng mày chỉ là những con chó của bọn tây mà thôi, còn đối với dân tộc Việt Nam thì chúng mày còn thua cả đống phân của con chó nữa. Hãy đi chết và đem theo cái lòng hận thù điên khùng, bệnh hoạn của chúng mày theo đi

  7. BON CHO TAY SAI CS TAU VA NGA CHI BIET DUA VAO CAI XAC THUI DAI DAM VA DAI AC CUA THANG HO CHO MINH TAU HE DE TON TAI NGAY CA BON CHO DE CSVN DANG CON SONG BON CHUNG NHU NHUNG CON LON DAY MO VA NGU DOT THAM TAN DAT DAI BIEN DAO CUA VN BI MAT DAN VA TAY BON TAU CONG BON CHO CSVN CHUNG BI LIEM CUT VA PHAN CUA BON TAU DI NHA !11

  8. Du ma hai thang cho de CS HAI NOI VA DANG MINH MAY CO BIET THANG HO CHO MINH LA CHA GIA CUA BON CHO DE CS ONG BA TO TIEN CUACHUNG MAY CHU KHONG PHAI DAN TOC VN THANG HO CHO LA THANG TAU GIAN DIEP TAU HE GAI VAO VN DE THONG LANH BON CSVN TAY SAI BAN NUOC CHO TAU MA HAU QUA VN BI MAT DAT DAI BIEN DAO HOM NAY BON CHO DE CS CHUNG MAY CHUNG BI LIEM CUT VA PHAN LAM NO LE CHO BON TAU CONG DI CHI NHIN LA CO BUA LIEM VA LA CO MAU LA BIET BON HO CHO MINH LA TAY SAI CHO MAO VA STALIN BOI CHU NGHIA NGOAI BANG BON CHO DE HO VA TAY SAI CS CHUNG MAY THE NAO CUNG BI TIEU DIET BOI DAN TOC VN BON MAY DA GIET HAI HANG TRIEU NGUOI DAN VN NO MAU PHAI TRA BANG MAU KHONG SAO TRACH KHOI

  9. Du ma hai thang cho de CS HAI NOI VA DANG MINH MAY CO BIET THANG HO CHO MINH LA CHA GIA CUA BON CHO DE CS ONG BA TO TIEN CUACHUNG MAY CHU KHONG PHAI DAN TOC VN THANG HO CHO LA THANG TAU GIAN DIEP TAU HE GAI VAO VN DE THONG LANH BON CSVN TAY SAI BAN NUOC CHO TAU MA HAU QUA VN BI MAT DAT DAI BIEN DAO HOM NAY BON CHO DE CS CHUNG MAY CHUNG BI LIEM CUT VA PHAN LAM NO LE CHO BON TAU CONG DI CHI NHIN LA CO BUA LIEM VA LA CO MAU LA BIET BON HO CHO MINH LA TAY SAI CHO MAO VA STALIN BOI CHU NGHIA NGOAI BANG BON CHO DE HO VA TAY SAI CS CHUNG MAY THE NAO CUNG BI TIEU DIET BOI DAN TOC VN BON MAY DA GIET HAI HANG TRIEU NGUOI DAN VN NO MAU PHAI TRA BANG MAU KHONG SAO TRACH KHOI

  10. lũ vô học,cho du Bác la người có vợ hay ko,có phạm 1 số sai lầm nhưng Bác cũng la 1 con người,điều đó bình thường thôi,chúng may chỉ biết bới la’ tìm sâu,chọc ngoáy linh tinh mà ko biết đến những công lao mà Bác đã làm cho đất nước ta. Bọn mày sống qua la bẩn đất,chết hết đi.

  11. Một mớ DVD rẻ tiền, tào lao, tầm xàm được thực hiện bởi một lũ bán nước mà lúc nào cũng tự xưng là yêu nước, mục đích của lũ phản động này thì ai cũng biết hết rồi, toàn làm những trò bỉ ổi, xấu xa mà không thấy nhục nhã, đê tiện. Quê hương, tổ tiên mà chúng mày còn quên mất thì còn tư cách nói chuyện với ai …?
    Nếu thực sự yêu nước thì hãy đóng góp công sức để xây dựng quê hương của mình, chứ đừng có làm những trò hề như vậy nữa, người Việt Nam không ai để ý đến những thứ rác rưởi này , chứ đừng có nói tin hay không

  12. (tiếp theo phần phê bình ở dưới: Lột trần huyền thoại Hồ Chí Minh – Huyền thoại “Tư Tưởng Hồ Chí Minh”)

    Đảng CSVN vội quay qua cầu cứu Hồ Chí Minh lần nữa, đưa thêm ‘tư tưởng Hồ Chí Minh’ tiếp theo sau chủ nghĩa Mác Lê, nghĩa là từ nay nền tảng của ý thức hệ cộng sản Hà Nội là chủ nghĩa Mác xít – Lê nin nít và tư tưởng Hồ Chí Minh. Từ đó mới xuất hiện chuyện ‘tư tưởng Hồ Chí Minh’. Điều 4 chương 1 hiến pháp năm 1992 của cộng sản Hà Nội chính thức công khai việc nầy.(56)

    Tưởng cũng nên thêm ở đây, khi Liên Xô sụp đổ, ở Hà Nội việc duy trì xác ướp Hồ Chí Minh gặp khó khăn cả về kỹ thuật lẫn tài chánh. Người ta đã nghĩ đến việc thiêu xác ông ta. Việc nầy đã được báo chí và đài phát thanh nói đến, nhưng do nhu cầu chính trị cần nêu cao ‘tư tưởng Hồ Chí Minh’, nên Hồ Chí Minh vẫn còn được nằm trong ngôi mộ đồ sộ ở Hà Nội với sự cố vấn của các chuyên gia Nga.

    Hồ Chí Minh từ trần ngày 2-9-1969, nhưng Lê Duẩn và bộ chính trị đảng CSVN sợ xui xẻo vì trùng với ngày quốc khánh của Hà Nội, đã sửa đổi ngày chết là 3-9, và sửa đổi luôn cả chúc thư của Hồ Chí Minh. (57) Đồng thời đảng CSVN xây dựng nấm mồ Hồ Chí Minh thật đồ sộ, tốn kém, gọi là lăng theo từ ngữ vua chúa thời quân chủ, nhắm lợi dụng huyền thoại và nấm mồ bề thế Hồ Chí Minh để uy hiếp tinh thần dân chúng, và tạo hào quang cho những kẻ kế thừa.(5

    ‘Tư tưởng Hồ Chí Minh’ là gì? Không thấy đảng Cộng Sản Việt Nam trình bày một cách có hệ thống tư tưởng Hồ Chí Minh. Trong đại hội tháng 2 năm 1951, Hồ Chi Minh phát biểu: ‘Về lý luận, đảng Lao Động Việt Nam theo chủ nghĩa Mác-Lênin…lấy tư tưởng Mao Trạch Đông làm kim chỉ nam.’. Khi đó, đại biểu miền Nam là Nguyễn Văn Trấn đã trình bày với Hồ Chí Minh rằng: ‘ Có đồng chí còn nói: hay là ta viết ‘tư tưởng Mao Trạch Đông và tư tưởng Hồ Chí Minh’. Ông Hồ trả lời:’Không, tôi không có tư tưởng ngoài chủ nghĩa Mác- Lê nin.’(59) Một lần khác, có người đã hỏi Hồ Chí Minh vì sao ông không viết sách về lý thuyết cộng sản, thì ông trả lời ông không cần viết, vì đã có Mao Trạch Đông viết rồi.(60) Hồ Chí Minh không có tư tưởng gì, nên những kẻ thừa kế tha hồ vẽ vời sáng tác mọi chính sách và gắn cho nhãn hiệu Hồ Chí Minh.

    Theo dõi những bài diễn văn, những khẩu hiệu do ông Hồ đưa ra, mọi người đều nhận biết rõ ràng tất cả đều do ông Hồ cóp nhặt từ các nhà tư tưởng văn hóa và chính trị đông tây. Ví dụ bài diễn văn khai sinh chế độ Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa do ông Hồ đọc ngày 2-9-1945, thường được đảng Cộng Sản gọi là bản ‘Tuyên ngôn độc lập’, hoàn toàn vay mượn của các văn bản Pháp và Mỹ.(61) Mọi người sẽ không lấy làm lạ nếu biết rằng người giúp ông Hồ viết bản văn nầy là một thiếu tá người Hoa Kỳ, Archimedes L. A. Patti.(62)

    Trong bài nói chuyện tại lớp học tập chính trị khoảng hơn 3.000 giáo viên cấp 2 và cấp 3 miền Bắc (dạy từ lớp 6 đến lớp 12 trung học), do bộ Giáo Dục tổ chức tại Hà Nội ngày 13-9-1958, Hồ Chí Minh viết: ‘Vì lợi ích mười năm thì phải trồng cây, vì lợi ích trăm năm thì phải trồng người ‘. (Báo Nhân Dân ngày 14-9-1958) Câu khẩu hiệu nầy được sách vở Cộng Sản xem là tư tưởng vĩ đại của Hồ Chí Minh về kế hoạch đào tạo nhân tài cho đất nước, thật ra là câu nói của Quản Trọng các đây hơn hai ngàn năm.(63)

    Một trong những khẩu hiệu hàng đầu được xem là tư tưởng Hồ Chí Minh để huấn luyện và giáo dục cán bộ cộng sản là ‘Chí công vô tư, cầm kiệm liêm chính’, thật ra rút từ lời dạy của Nho giáo cũng đã trên 2.000 năm. Với các phạm trù nầy, Nho giáo đã đào tạo không biết bao nhiêu thế hệ quan lại thanh liêm trước đây phục vụ quần chúng. Ngược lại, lời sao chép của Hồ Chí Minh chỉ là cái vỏ bọc che đậy một hệ thống cầm quyền tham ô nhũng lạm từ trên xuống dưới, mà bất cứ người nào ở trong cũng như ngoài nước, kể cả người ngoại quốc đều biết.

    Còn việc Hồ Chí Minh bảo rằng ‘Không có gì quý hơn độc lập tự do’, thì mọi người đều đã biết, chính nhờ lợi dụng tinh thần độc lập dân tộc và lòng yêu thích tự do của dân chúng mà Hồ Chí Minh và đảng CSVN đã đưa dân tộc Việt Nam vào vòng nô lệ cộng sản Nga Hoa.

    Nêu lên vài ví dụ trên đây để thấy rằng những điều gọi là tư tưởng Hồ Chí Minh, chỉ là sự cóp nhặt danh ngôn của những vĩ nhân thế giới, rồi đề tên họ Hồ vào. Sở dĩ ông Hồ và các thuộc hạ của ông mạnh dạn mượn tư tưởng của người khác làm của riêng ông Hồ, vì từ năm 1954 đến 1975, Bắc Việt sống hoàn toàn bưng bít, không có bất cứ một sách vở xưa cũ hay một phương tiện truyền thông nào đến với dân chúng, ngoài sách đảng, báo đảng, và đài phát thanh đảng. Trong tình hình đó, Hồ Chí Minh muốn cóp nhặt của ai thì tha hồ mà cóp nhặt, không ai biết gì để có thể so sánh. Rủi ro có người nào phát hiện, người đó cũng không dám lên tiếng dưới chế độ độc tài của ông. Ngay cái tên ‘Nguyễn Ái Quốc’, ông Hồ mượn của Phan Chu Trinh, Phan Văn Trường và Nguyễn Thế Truyền;(64) và cái tên ‘Hồ Chí Minh’ ông Hồ mượn của Hồ Học Lãm.(65) Chẳng những lấy tên ‘Hồ Chí Minh’ của Hồ Học Lãm, năm 1940, Nguyễn Ái Quốc còn chiếm dụng luôn danh xưng Việt Nam Độc Lập Đồng Minh Hội gọi tắt là Việt Minh do Hồ Học Lãm và Nguyễn Hải Thần lập ra ở Nam Kinh (Trung Hoa) vào năm 1936 để đánh lừa những người yêu nước Việt Nam và cả chính quyền Trung Hoa để được giúp đỡ.

    Theo tài liệu của đảng Cộng Sản Việt Nam, Bản án chế độ thực dân Pháp do Nguyễn Ái Quốc đưa ra năm 1922, do chính ông khởi viết từ 1921.(66) Thật ra, Nguyễn Ái Quốc không viết được sách nầy, vì lúc đó ông ta không đủ trình độ Pháp văn để viết sách,(67) và ông ta đã cóp nội dung bài ‘Đông Dương chính trị luận’ của Phan Chu Trinh (đã được Jules Roux, bạn của Phan Chu Trinh, dịch ra tiếng Pháp để gởi cho chính phủ Pháp và Albert Sarraut sắp qua làm toàn quyền Đông Dương). ‘Bài nầy Quốc chỉ sửa chút ít, viết lại đề tựa khác ‘Bản án chế độ thực dân Pháp’, nhờ luật sư Phan Văn Trường sửa chữa, viết lại nhiều trang, viết lời tựa trước khi in và phổ biến.’(6?

    Chẳng những ông Hồ ‘mượn’ tư tưởng vĩ nhân thế giới làm tư tưởng của mình, cóp sách của người khác rồi sửa chửa làm sách của mình, ông ta còn mượn luôn thơ của người khác để làm thơ mình. Tác phẩm được coi là nổi tiếng của họ Hồ là Ngục trung nhật ký [Nhật ký trong tù]. Nhà nghiên cứu Lê Hữu Mục đã phân tách tỉ mỉ tác phẩm nầy và đi đến kết luận như sau: ‘Phần phân tích ở trên chứng thực già Lý là chủ nhân của những bài thơ xây dựng theo kĩ thuật thơ Đường; những bài thơ nầy chiếm hết ba phần tư tác phẩm. Phần còn lại có thể coi là của Hồ Chí Minh. Tôi chỉ nói là có thể vì tôi không khẳng định được rõ ràng bài thơ nào đích thực là của Hồ Chí Minh, bài thơ nào thuộc về các tác giả khác.‘(69) Từ phát hiện của nhà nghiên cứu Lê Hữu Mục, có lẽ cũng cần nên cẩn án lại cẩn thận những tác phẩm mang tên Hồ Chí Minh có phải thực sự là của ông ta không?(70)

    Không biết ông Hồ đã tự cóp nhặt hoặc đạo văn, hay những thuộc hạ của ông muốn tâng bốc ông Hồ, đã cóp nhặt và đạo văn giúp cho ông Hồ. Nếu như thế thì họ đã hại hình tượng Hồ Chí Minh của họ. Tai hại một cách công khai nhất là bộ chính trị đảng Cộng Sản Việt Nam đã thêm phần ‘tư tưởng Hồ Chí Minh’ sau chủ nghĩa Mác-Lê. Hồ Chí Minh không bao giờ là một nhà tư tưởng, cũng không phải là một lý thuyết gia chính trị. Trong sách Ho Chi Minh, Jean Lacouture đã ít nhất hai lần nói rằng ông Hồ không phải là một lý thuyết gia, dù lúc viết sách nầy Lacouture là một ký giả còn thiên tả.(71) Mọi người đều đã từng nghe nói đến Marxism (Mác-xít), Leninism (Lênin-nít), Stalinism (Xìtalin-nít), Titoism (Titô-ít), Maoism (Mao-ít), nhưng không bao giờ nghe nói đến ‘Hoism’ (Hồ-ít).(72) Ông Hồ thật sự chỉ là một nhà chính trị giỏi thực hành, một chiến thuật gia (tactician), ứng biến mau lẹ, có tài đóng kịch, đặc biệt rất sắc máu và tàn ác dị thường. (73) Việc bộ chính trị đảng CSVN đề cao tư tưởng Hồ Chí Minh, công khai đưa vào hiến pháp, làm cho người ta càng thêm chú ý, và càng để lộ trước mặt mọi người rằng ông Hồ chẳng có tư tưởng nào đặc sắc. (74)

    Sau sự sụp đổ của các đảng cộng sản tại Liên Xô và Đông Âu, bộ chính trị đảng CSVN tưởng rằng thổi phồng huyền thoại ‘tư tưởng Hồ Chí Minh’ nhắm gây hưng phấn dân chúng. Thực chất việc trên đã làm cho chủ nghĩa nầy càng thêm mất ý nghĩa và không quyến rũ được ai. Ngày nay, chủ nghĩa Mác-Lê, và hình tượng Hồ Chí Minh chỉ còn là chiếc phao để đảng Cộng Sản duy trì quyền lực độc đảng độc tài dựa trên bạo lực mà thôi. Trong khi đó, dư luận trong nước cũng như trên thế giới đều lên tiếng hô hào loại bỏ điều 4 hiến pháp 1992, nghĩa là chẳng những loại bỏ đặc quyền tối thượng của đảng CSVN, mà còn loại bỏ luôn chủ thuyết Mac xít – Lê nin nít và cái gọi là ‘tư tưởng Hồ Chí Minh’.

    Tóm lại, những huyền thoại về Hồ Chí Minh do ông tự tạo ra, hay do các thuộc hạ của ông dựng nên, đều là những phấn son giả tạo tô điểm hình tượng Hồ Chí Minh.(75) Những huyền thoại nầy một thời đã đánh lừa được một số người Việt Nam và thế giới. Gần đây, trong một cuộc phỏng vấn, sử gia Jean Louis Margolin, giáo sư tại Université de Provence (Pháp), tác giả sách Livre Noir du Communisme [Sách đen chủ nghĩa cộng sản], đã nói: ‘Thành thật mà nói, vào những năm 60, tôi đã từng xuống đường biểu tình ủng hộ Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam, tôi đã từng reo mừng với những cuộc chiến thắng tại Cam-bốt cũng như tại Việt Nam. Tôi từng nghe nói đến những vụ tàn sát Tết Mậu Thân 68, nhưng tôi tin và nghĩ rằng đó chỉ là sự tuyên truyền của Mỹ. Không phải chỉ một mình tôi, mà tôi tin rằng rất nhiều người cùng thời với tôi đã bị sai lầm vì những tuyên truyền sai lạc của cộng sản.’ (76)

    Dần dần, dòng sông thời gian đã rửa sạch lớp phấn son giả tạo, làm bay đi những huyền thoại, để lộ ra khuôn mặt thật của Hồ Chí Minh. Phải thẳng thắn thừa nhận rằng Hồ Chí Minh là một nhân vật lớn của lịch sử hiện đại Việt Nam. Ông đã lập nhiều thành tích đáng kể và đáng nể. Những thành tích nầy tốt hay xấu, có lợi hay có hại cho nhân dân Việt Nam, đó là sự phán xét của nhân dân.(77) Lột trần những huyền thoại Hồ Chí Minh là việc làm cần thiết để trả lại cho Hồ Chí Minh, tên thật là Nguyễn Sinh Cung, những gì thật sự là của Nguyễn Sinh Cung.

    TRẦN GIA PHỤNG

    CHÚ THÍCH :

    1. Ban Nghiên cứu Lịch sử đảng trung ương (BNCLSÐ), Chủ tịch Hồ Chí Minh, tiểu sử và sự nghiệp, in lần thứ tư (có xem lại và bổ sung), Nxb. Sự Thật, Hà Nội 1975, tt. 11-12. Chữ “Người” với N (hoa) là của nguyên bản.
    2. Cao Xuân Dục, Quốc triều đăng khoa lục, bản dịch của Lê Mạnh Liêu, Bộ Quốc Gia Giáo Dục, Sài Gòn, 1962, tt. 234-240.
    3. Trần Quốc Vượng, Trong cõi, Nxb. Trăm Hoa, California, 1993, tr. 257
    4. Daniel Hémery, Ho Chi Minh, de l ‘ Indochine au Vietnam [Hồ Chí Minh, từ Ðông Dương đến Việt Nam] , Nxb. Gallimard, Paris, 1990. tt. 131-132.
    5. Bình Khê nằm về phía tây huyện Tuy Phước. (Bình Khê là quê của bà Bùi Thị Xuân, thi sĩ Quách Tấn). Thừa biện là một chức quan nhỏ ở một bộ, thừa hành một nhiệm vụ nào đó do cấp trên giao phó trong một thời gian. (Trần Thanh Tâm, Tìm hiểu quan chức nhà Nguyễn, Nxb. Thuận Hóa, Huế, 1996, tr. 229) Phan Chu Trinh đỗ phó bảng xong làm thừa biện bộ Lễ. Hoàng Diệu đỗ phó bảng xong làm hàn lâm viện kiểm thảo cũng là một chức quan nhỏ, lo việc biên duyệt sách vở cho Hàn lâm viện, rồi mới được bổ tri huyện Tuy Phước, Bình Ðịnh.
    6. Cách chức là không được giữ chức vụ cũ, hạ thấp chức vụ và công việc, nhưng vẫn còn được làm quan. Ở đây, ông Nguyễn Sinh Sắc chẳng những bị hạ chức mà còn bị đuổi không cho làm quan nữa, tức sa thải ra khỏi ngành quan lại.
    7. Daniel Hémery, sđd. tr. 133. Theo Thành Tín, tức Bùi Tín, nạn nhân của Nguyễn Sinh Sắc là một nông dân tên Tạ Ðức Quang. (Thành Tín, Mặt thật, Hồi ký chính trị của Bùi Tín, Nxb. Saigon Press, California, 1993, tr. 95.)
    8. Daniel Hémery, sđd. tr. 133. Nguyên văn: “…elle ne put supporter longtemps les brutalités de son père qui avait contracté des habitudes d’ ivrognerie et la frappait très souvent…” Thành Tín, trong sđd. tr. 95 viết: “Ông Nguyễn Sinh Huy vốn nghiện rượu rất nặng khi còn ở Huế, bà Thanh kể rằng hồi ấy cứ lên cơn thèm rượu và say rượu là bà bị ông bố đánh bằng tay và bằng roi rất tàn nhẫn.”
    9. Diệp Văn Kỳ (1895-1945): Ông là con của Diệp Văn Cương và Công Nữ Thiện Niệm. Bà nầy là em vua Dục Ðức (1883) và cô của vua Thành Thái (trị vì 1889-1907). Ông giỏi Nho học, Tây học, đã du học Pháp, đỗ cử nhân luật. Khi về Sài Gòn, ông sang tờ Ðông Pháp Thời Báo, rồi xuất bản tờ Thần Chung. Tờ nầy bị đình bản năm 1932. Ông mất tại Trảng Bàng năm 1945.
    10. Daniel Hémery, sđd. tr. 134. Theo các tài liệu cộng sản Việt Nam, ông Sắc từ trần và chôn ở Cao Lãnh. Theo tổ chức hành chánh hiện nay ở Việt Nam, Cao Lãnh và Sa Ðéc là hai thị xã nằm gần nhau trong tỉnh Ðồng Tháp. Nghề viết liễn đối: ngày trước, khi trong nhà có việc vui hay buồn như đám cưới, đám ma…, người ta thường tặng những câu liễn đối bằng chữ Nho, mang nội dung chúc mừng hay chia buồn chủ nhà. Muốn viết hay, người viết phải có trình độ Nho học cao.
    11. Thành Tín [tức Bùi Tín], Mặt thật, sđd. tr. 95-96. Lê Văn Tiến, nguyệt san Thế Kỷ 21, Garden Grove, California, số 116, tháng 12-1998 tt. 52-53. Thư ngày 15-12-1912 của Paul Tất Thành viết bằng chữ Pháp từ New York.
    12. Trần Quốc Vượng, sđd. tr. 258. Trần Quốc Vượng còn thêm rằng chính ông Hồ Sĩ Tạo đã vận động cho Nguyễn Sinh Sắc vào học trường Quốc tử giám ở kinh đô Huế. (sđd. tr. 256)
    13. Nguyễn Khánh Toàn chủ biên, và một số tác giả, Lịch sử Việt Nam, tập 2, Nxb. Khoa học Xã hội, Hà Nội, 1985, tr. 145. Sách nầy viết sai chữ “La Touche Tréville”. Ðúng ra là “Latouche-Tréville”. Chữ “Người” với chữ N (hoa) trong nguyên bản. Chúng tôi giữ nguyên cách viết trong bộ Lịch sử Việt Nam.
    14. BNCLSÐ, sđd. tr. 15.
    15. Trần Dân Tiên, Những mẩu chuyện về đời hoạt động của Hồ Chủ Tịch, Nxb. Sự Thật, Hà Nội 1976, tr. 13.
    16. Ðăng trên nguyệt san Ðường Mới số 1, Paris, 1983, từ trang 8 đến trang 25.
    17. Nguyễn Thế Anh, “Hành trình chính trị của Hồ Chí Minh”, đăng trong Hồ Chí Minh, sự thật về thân thế và sự nghiệp, một nhóm tác giả, Nxb. Nam Á, Paris, 1990, tr. 25.
    18. Daniel Hémery, sđd. tt. 63, 145.
    19. Lữ Giang, Những bí ẩn lịch sử đàng sau cuộc chiến Việt Nam, quyển I, tái bản lần thứ nhất, có hiệu đính và bổ túc, California, 1999, tr. 109.
    20. Nguyễn Thế Anh, bài và sách đã dẫn, tt. 25-26. Stanley Karnow, Vietnam A History, Nxb. Viking, New York, in lần thứ nhì, 9-1983, tr. 126. Karnow còn viết thêm:” A Communist official in Hanoi in 1981 told me that Ho had loved a Chinese woman, a doctor, who died before they could marry.” (Một viên chức cộng sản ở Hà Nội vào năm 1981 đã nói với tôi rằng Hồ đã yêu một phụ nữ Trung Hoa, một bác sĩ; bà nầy từ trần trước khi họ định cưới nhau.)
    21. Thành Tín, Về ba ông thánh, California, 1995, tr. 136. Sau đây là nguyên văn của ông Thành Tín: “…Bà Minh Khai ghi rõ chồng là “Lin”, bí danh của Nguyễn Ái Quốc hồi ấy; cả những phiếu ghi nhận đồ đạc trong phòng riêng hai người tại nhà ở tập thể của cán bộ thuộc Quốc Tế Cộng Sản ghi rõ: hai vợ chồng Minh Khai và “Lin”, chung phòng, chung giường, chung đồ dùng… Có tài liệu ghi rõ hai vợ chồng nầy cũng chung sống ở Hồng Kông một thời gian… Ðây không thể nào là tài liệu giả…” Chú ý: Nguyễn Thị Minh Khai là chị ruột của Nguyễn Thị Quang Thái. Bà Thái là vợ đầu của Võ Nguyên Giáp.
    22. Trần Trọng Kim, Một cơn gió bụi, Sài Gòn, 1969, tr. 75. Sau đây là nguyên văn của Trần Trọng Kim trong đoạn nầy: “Về khoảng cuối năm 1944, Việt Nam Cách Mệnh Ðồng Minh Hội lại dời về tỉnh Quảng Tây, và cho ông Hồ Chí Minh về Bách Sắc để trù liệu kế hoạch nhập Việt. Sau đó, Hội cho ông Minh cùng 22 đảng viên, phần nhiều là người đảng Phục Quốc, về nước để khởi sự hành động. Trong số 22 người ấy có một nữ đảng viên tên là Ðỗ Thị Lạc là người sau có đứa con gái với Hồ Chí Minh. Về sau, thấy người ta nói khi đến địa hạt Bắc Giang, có ba đảng viên trong 22 người ấy bị giết vì không chịu theo cộng sản.”
    23. Vũ Thư Hiên, Ðêm giữa ban ngày (hồi ký chính trị của một người không làm chính trị), Nxb. Văn Nghệ, California, 1997, tt. 605-609. Nguyễn Minh Cần, “Thêm vài mẩu chuyện về cuộc đời của Hồ Chí Minh”, nguyệt san Thế Kỷ 21, Garden Grove, số 96, tháng 4-1997, tt. 33-40.
    24. Nguyễn Minh Cần, bđd., tt. 36-37.
    25. Văn trích tuần báo, số tháng 1-1991. Bài báo nhan đề: “Hồ Chí Minh tằng tưởng tái hôn”. Nguyệt san Phụng Sưï, Glendale, Phoenix, Arizona, bộ mới, số 10, ngày 15-10-1996, chụp hình và dịch bài báo sang tiếng Việt.
    26. BNCLSÐ, sđd. tr. 160. Chữ “Người” viết hoa theo nguyên bản.
    27. Oliver Todd, “Huyền thoại Hồ Chí Minh”, Nguyễn Văn dịch, đăng trong sách Hồ Chí Minh, sự thật về thân thế và sự nghiệp, Nxb. Nam Á, Paris, 1990, tr. 276.
    28. Oliver Todd, bđd., sđd. tr. 277. Stanley Karnow, “Ho Chi Minh”, tạp chí Time, tập 151, số. 14, 13-4-1998, tr. 123.
    29. Trần Dân Tiên, sđd. tr. 9. Những chữ viết hoa theo nguyên bản.
    30. Trần Dân Tiên, sđd. tr. 149. Những chữ viết hoa theo nguyên bản.
    31. Thành Tín, Hoa xuyên tuyết, Nxb. Nhân Quyền, California 1991, tr. 117.
    32. Phạm Cây Trâm, “Về bài thơ viếng đền thờ Ðức Trần Hưng Ðạo của ông Hồ”, mục “Bạn đọc viết”, nguyệt san Thế kỷ 21, California, số 136, tháng 8-2000, tr. 8.
    33. Hồ Chí Minh đưa ra khẩu hiệu nầy trong hội nghị ngày 3-3-1951, hợp nhất hai mặt trận của đảng Cộng Sản là Mặt trận Việt Minh và Mặt trận Liên Việt. (BNCLSÐ, sđd. tr. 110.)
    34. Thượng Huyền, “Giới thiệu sách: Hồ Chí Minh tại Trung Quốc” [của tác giả Tưởng Vĩnh Kinh, người Ðài Loan], nguyệt san Thế Kỷ 21, Garden Grove, California, số 108, tháng 4-1998.
    Chính Ðạo, Hồ Chí Minh, con người và huyền thoại tập 2:1925-1945, Nxb. Văn Hóa, Houston, tt. 32-33. Charles Fenn, Ho Chi Minh: a biographical introduction, Studio Vista, London, 1973, tr. 50; phần chú thích, trích dẫn P. J. Honey viết trên báo Time ngày 12-9-1971.
    35. Ngoài các tài liệu trong chú thích số 34, xin lưu ý câu chót của Trần Trọng Kim trong trích dẫn ở chú thích số 22 làm ví dụ.
    36. Hoàng Văn Ðào, Việt Nam Quốc Dân Ðảng, tái bản kỳ 2, Sài Gòn, 1970, tr. 108.
    37. Trong Bạch thư Cao Ðài giáo công bố San Bernardino ngày 9-4-1999, vị đại diện Cao Ðài giáo Ngọc Sách Thanh cho biết rằng tại tỉnh Quảng Ngãi, chỉ trong ba tuần lễ kể tứ 19-8-1945, Việt Minh sát hại và chôn sống 2791 chức sắc, chức việc, và tín hữu Cao Ðài giáo.
    38. Cộng sản thay thế đảng Cộng Sản Ðông Dương bằng hội Nghiên Cứu Mác-xít do cựu tổng bí thư đảng Lao Ðộng là Trường Chinh Ðặng Xuân Khu làm chủ tịch. Trong cuộc gặp gỡ Stalin năm 1950 tại Moscow, trả lời câu hỏi của Stalin tại sao giải tán đảng Cộng Sản, Hồ Chí Minh giải thích rằng việc giải tán đảng Cộng Sản cuối năm 1945 chỉ là giải tán giả, trên thực tế là đảng lùi vào hoạt động bí mật. (Thành Tín, Mặt Thật, tt. 67-68.) Sau cuộc gặp nầy trở về, Hồ Chí Minh tái tổ chức đảng dưới một danh xưng mới là đảng Lao Ðộng ngày 19-2-1951, do Hồ Chí Minh làm chủ tịch, Trường Chinh làm tổng bí thư.(Chính Ðạo, Việt Nam niên biểu, 1939-1975 (tập B: 1947-1954), Nxb. Văn Hóa, Houston, 1997, tr. 230.)
    39. BNCLSÐ, sđd. tr. 170.
    40. Jean Lacouture, Ho Chi Minh, Peter Wiles dịch từ tiếng Pháp qua tiếng Anh, Nxb. Penguin Books, Harmondsworth, 1969, p. 130. Nguyên văn: “All those who do not follow the line which I have laid down will be broken.” Linh mục Cao Văn Luận, trong sách Bên giòng lịch sử Việt Nam, 1940-1975, Tantu Research, Sacramento, California, 1983, tt. 60-61 có tường thuật lại đầy đủ buổi tiếp tân ngày 25-6-1946 tại Paris, trong đó Hồ Chí Minh phát biểu ý kiến trên đây. Lúc đó, họ Hồ qua Pháp theo phái đoàn Việt Nam do Phạm Văn Ðồng dẫn đầu tham dự hội nghị Fontainebleau. Trong cuộc tiếp tân nầy, có một số người Việt tham dự, trong đó có linh mục Cao Văn Luận.
    41. Vũ Thư Hiên, sđd. tr. 222.
    42. Vũ Thư Hiên, sđd. tr. 607.
    43. Một trong những nạn nhân nổi tiếng trong vụ nầy là ông Vũ Ðình Huỳnh, người cộng tác thân tín của ông Hồ, phụ thân của tác giả Vũ Thư Hiên, đã được ông Hiên trình bày câu chuyện bạc đãi xuyên suốt trong tác phẩm Ðêm giữa ban ngày.
    44. Phan Bội Châu niên biểu, đăng trong Phan Bội Châu toàn tập [gồm 10 tập], tập 6, do Chuơng Thâu sưu tầm và biên soạn, Nxb. Thuận Hóa, Huế, 1990, tr. 272.
    45. Nếu theo lịch mới do giáo hoàng Grégoire 13 (giáo nhiệm từ 1572-1585) ban hành, và hiện đang áp dụng trên toàn thế giới, cuộc cách mạng Nga xảy ra vào ngày 7-11-1917. Cuộc cách mạng nầy thường được gọi là “Cách mạng tháng 10″ vì lúc đó, Nga chưa dùng lịch Gregoire, vẫn còn dùng lịch cũ đặt ra từ thời Julius Caesar (102-44 tr.CN). Ngày 7-11 lịch mới là ngày 26-10 lịch cũ.
    46. Cuộc tranh chấp Nhật Nga bắt đầu từ sau khi Minh Trị thiên hoàng (trị vì 1868-1912) canh tân nước Nhật và đưa Nhật Bản lên hàng cường quốc. Năm 1905, Nhật đại thắng Nga tại Ðối Mã (Tsushima), nằm trong eo biển giữa Nhật Bản và Triều Tiên. Do trung gian của Hoa Kỳ, hai bên ký kết hòa ước Portsmouth, (New Hampshire, đông bắc Hoa Kỳ) ngày 5-9-1905. Hòa ước nầy thừa nhận ưu thế của Nhật tại Triều Tiên, đồng thời Nga chịu nhường cho Nhật tất cả những quyền lợi chính trị và kinh tế ở nam Mãn Châu, kể cả bán đảo Liêu Ðông (Liaotung) cũng như ở miền nam đảo Saklalin. Từ đó cho đến khi thế chiến thứ nhì bắt đầu, Nga, rồi Liên Xô mất dần hết những quyền lợi ở Mãn Châu và Triều Tiên.
    47. Nguyễn Khánh Toàn, sđd. tt. 320-321. Những chữ viết hoa theo nguyên bản. Dòng in đậm do người viết nhấn mạnh.
    48. Nguyễn Văn Trấn, Viết cho mẹ & quốc hội, Nxb. Văn Nghệ [tái bản], California, 1995, tr. 150. Nguyên văn Nguyễn Văn Trấn viết: “… Bác Hồ theo Staline mà đặt tên đảng ta là Ðảng Lao Ðộng Việt Nam… Nghe tới Staline nói thì còn ai hó hé…”
    49. Thành Tín, Mặt thật, Sài Gòn Press, California, 1993, tr. 67.
    50. Nguyễn Văn Trấn, sđd. tt. 164-169. Nguyễn Văn Trấn được cử đi học khóa huấn luyện nầy ở Trung Hoa..
    51. Vũ Thư Hiên, sđd. tr. 422, phần chú thích.
    52. Vũ Thư Hiên, sđd. tr. 249.
    53. Mại bản (comprador) : từ ngữ được dùng khi Trung Hoa tiếp xúc với Tây phương, để chỉ những người địa phương làm trung gian buôn bán với các doanh nghiệp nước ngoài.
    54. Trần Dân Tiên, sđd. tr. 113.
    55. Ðề nghị một tòa báo hay một tư nhân nào thử lấy đoạn văn trên, đừng ghi xuất xứ từ bản tuyên bố ngày 2-9-1945 của Hồ Chí Minh, đặt câu hỏi trắc nghiệm với người Việt ở ngoài cũng như ở trong nước: “Chúng” là ai? Chắc chắn kết quả trả lời chữ “chúng” là cộng sản Việt Nam.
    56. Sau đây là nguyên văn điều 4 chương 1 của hiến pháp năm 1992 của chế độ cộng sản Hà Nội: “Ðảng cộng sản Việt Nam, đội tiên phong của giai cấp công nhân Việt Nam, đại biểu trung thành quyền lợi của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của cả dân tộc, theo chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, là lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội. Mọi tổ chức của đảng hoạt động trong khuôn khổ hiến pháp và pháp luật.” (Tài liệu rút từ Internet). Ðiều 4 nầy chẳng những chính thức xác nhận bên cạnh chủ nghĩa Mác Lênin, “tư tưởng Hồ Chí Minh” là kim chỉ nam hành động của đảng CSVN, mà còn đặt đảng CSVN đứng trên hiến pháp, và mọi quyền hành trong nước đều nằm trong tay đảng CSVN vì “là lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội “.
    57. Sau đây là nguyên văn của Thành Tín, tức Bùi Tín, trong Hoa xuyên tuyết, tr. 118: “Hồ Chí Minh bắt đầu viết Di chúc từ tháng 5-1965, sau đó cứ vào tháng 5 hằng năm lại viết lại, viết thêm. Cho nên có tới bốn bản Di chúc bổ sung cho nhau. Ông Vũ Kỳ kể chuyện là ngày 2-9-1969, sau khi ông Hồ Chí Minh mất, vào buổi tối, ông Phạm Văn Ðồng đến nơi đặt thi hài ông Hồ. Ông Vũ Kỳ đưa ra chiếc phong bì lớn đựng cả bốn Di chúc. Ông Phạm Văn Ðồng đưa cả hai tay ra ngăn lại: “Không, tôi không nhận. Ðây là chuyện hệ trọng. Ðể sáng mai, có đầy đủ Bộ Chính trị, đồng chí đưa ra.” Sáng 3-9-1969, có đầy đủ Bộ Chính trị, ông Vũ Kỳ đưa ra chiếc phong bì lớn ấy. Ông Lê Duẩn liền cầm lấy rồi gọi ông Hoàng Tùng, Tổng biên tập báo Nhân Dân vào phòng nhỏ bên cạnh. Ông Duẩn tự quyết định chỉ đưa ra một bản, cắt bỏ, sửa chửa vài chỗ rồi giao cho ông Hoàng Tùng công bố…” (Những chữ viết hoa theo nguyên bản.)
    58. Chẳng những việc xây lăng và bảo vệ xác ướp rất tốn kém, việc duy trì lực lượng quân sự để bảo vệ lăng cũng vô cùng tốn kém từ 1969 đến nay. Tư lệnh quân đội bảo về lăng là một sĩ quan cấp tướng, với ít nhất hai tiểu đoàn chính quy, và không biết bao nhiêu cảnh sát vừa nổi vừa chìm đứng gác, với một lượng điện và nước tiêu dùng bằng một quận lớn, trong khi dân chúng thiếu thốn.
    59. Nguyễn Văn Trấn, Viết cho mẹ & quốc hội, Nxb. Văn Nghệ, California, tái bản năm 1996, tr. 150-152. Theo đoạn văn nầy, trong một cuộc đối thoại ngắn, Hồ Chí Minh hai lần xác nhận mình chẳng có tư tưởng gì ngoài chủ nghĩa Mác-Lê.
    60. Oliver Todd, bđd., sđd. tr. 277.
    61. Lời mở đầu của bản tuyên bố ngày 2-9-1945:
    “Hỡi đồng bào cả nước,
    “Tất cả mọi người đều sinh ra có quyền bình đẳng.
    “Tạo hóa cho họ những quyền không ai có thể xâm phạm được; trong những quyền ấy, có quyền được tự do sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc.”
    “Lời bất hủ ấy trong bản Tuyên ngôn độc lập năm 1776 của nước Mỹ. Suy rộng ra, câu ấy có ý nghĩa là: tất cả các dân tộc trên thế giới sinh ra bình đẳng; dân tộc nào cũng có quyền sống, quyền sung sướng và quyền tự do.
    “Bản Tuyên ngôn Nhân quyền và Dân quyền của cách mạng Pháp năm 1791 cũng nói:
    “Người ta sinh ra tự do bình đẳng về quyền lợi, và phải luôn luôn được tự do và bình đẳng về quyền lợi.”
    “Ðó là những lẽ không ai chối cãi được…” (Trần Dân Tiên, sđd. tr. 112.)
    56. Stanley Karnow, sđd. tr. 138.
    57. Quản Trọng: Tên là Quản Di Ngô, năm sinh năm và mất không rõ, sống vào thế kỷ thứ 7 trước Công nguyên. Ông làm tể tướng, phò Tề Hoàn Công lập bá nghiệp thời Xuân Thu (722-479 tr CN). Ông có công trong cải cách kinh doanh, thuế vụ, được Tề Hoàn Công kính trọng gọi là “Trọng phụ”(cha già), nên người đời gọi là Quản Trọng. Quản Trọng cho hành nghề mãi dâm công khai và đánh thuế, nên ông cũng được thờ là tổ lầu xanh và là thần “Bạch mi” (Lông mày trắng). Tác phẩm để lại: Quản Tử, gồm những tư tưởng triết lý chính trị. Câu của Quản Trọng là: ” Nhất niên chi kế tại ư thụ cốc; thập niên chi kế tại ư thụ mộc; bách niên chi kế tại ư thụ nhân” (Kế một năm trồng lúa, kế mười năm trồng cây, kế trăm năm trồng người.) Ban sáng lập viện Ðại học Ðà Lạt, Việt Nam Cộng Hòa, dùng ý câu nầy làm phương châm “Thụ Nhân” của nhà trường.
    58. Nguyễn Thế Anh, bđd., sđd. tr. 29.
    59. Chính Ðạo, Việt Nam niên biểu nhân vật chí, Nxb. Văn Hóa, Houston, 1997, tt. 168-169. Lữ Giang, sđd. tt. 110-111. Hồ Học Lãm (? – 1942): Người Quỳnh Ðôi, Nghệ An, qua Nhật theo cụ Phan Bội Châu trong cuộc Ðông du (1905-1908). Năm 1909, ông bị trục xuất khỏi Nhật, qua Trung Hoa, học khóa 2 sĩ quan Bảo Ðịnh Quân, rồi phục vụ trong quân đội Trung Hoa. Trong thập niên 1920, Hồ Học Lãm sống ở Hàng Châu, giao thiệp thân cận với Cường Ðể, Phan Bội Châu và những nhà cách mạng Việt Nam ở Trung Hoa. Có thể nói ông là gạch nối giữa những nhà hoạt động cách mạng Trung Hoa và Việt Nam. Ông lấy tên Hồ Chí Minh khoảng năm 1937. Tên nầy được Nguyễn Ái Quốc “mượn” dùng lần đầu khoảng cuối 1940.
    60. BNCLSÐ, sđd. tr. 29.
    61. Tờ trình của viên chánh kiểm soát quân đội và người Ðông Dương tại Pháp, gởi toàn quyền ngày 12-9-1923, nói về việc Nguyễn Ái Quốc viết và nói tiếng Pháp như sau: “…Những bài ký tên Nguyễn Ái Quốc không phải do ông ta viết… Người Việt Nam ấy [Nguyễn Ái Quốc] chưa đủ khả năng nói và viết tiếng Pháp trôi chảy…” (Hứa Hoành, Những phú hộ lừng danh, Nxb. Văn Hóa, Houston, TX, 1999, tr. 226, trích dẫn tài liệu của Ðặng Hữu Thụ, Nhà cách mạng Nguyễn Thế Truyền, tr. 124.) Ðiều nầy hữu lý vì Nguyễn Ái Quốc tức Nguyễn Sinh Cung (hay Côn) học chưa hết năm thứ nhất trường Cao đẳng tiểu học Quốc Học (tương đương với lớp 6 Trung học đệ nhất cấp ngày nay) thì đã bỏ học vào tháng 4-1908.
    62. Hứa Hoành, sđd. tr. 224.
    63. Lê Hữu Mục, Hồ Chí Minh không phải là tác giả “Ngục trung nhật ký”, Văn Bút Việt Nam Hải Ngoại, Canada, 1990, tr. 94. “Ông già họ Lý”, người bị giam chung với họ Hồ vào đầu thập niên 30 tại khám lớn Victoria ở Hồng Kông.
    64. Gần đây, tuyển tập Quốc Học, trường tôi do nhà xuất bản Thuận Hóa ấn hành tại Huế năm 1996 có đăng bài thơ “Tầm hữu vị ngộ” của Hồ Chí Minh. Tuyển tập trên chú giải rằng bài thơ nầy của Hồ Chí Minh gởi cho Võ Nguyên Giáp năm 1954, và “mới được phát hiện”. Theo ông Tuệ Quang Tôn Thất Tuệ, trong bài “Ai là tác giả bài Tầm hữu vị ngộ?”, tạp chí Hương Văn, California, số 5, 2-1999, tt. 91-96, nếu nói rằng bài thơ nầy của một lãnh tụ (Hồ Chí Minh) tặng cho một ông tướng (Võ Nguyên Giáp), được sáng tác năm 1954, mà sao đến năm 1990 mới phát hiện? Hai người nầy đều là những nhân vật quan trọng đầu não của chế độ Hà Nội, mà sao bài thơ có thể thất lạc một thời gian dài? Ông Tuệ Quang đi sâu vào chi tiết bài thơ và nhận xét: “Tóm lại, bài thơ “Tầm hữu vị ngộ”, xét về hình thức lẫn nội dung, không phù hợp với thi cách và khuynh hướng của ông Hồ “.
    65. Jean Lacouture sđd. tt. 58, 153: (1) tr. 58: Lacouture trình bày nhận xét của đảng viên cộng sản Pháp Joseph Ducroux, cùng hoạt động với họ Hồ ở Trung Hoa: “He devoted little time to doctrinal wranglings. He was first and foremost a militant, an organizer.” (Ông ta ít dành thời giờ để bàn cãi chủ thuyết. Trước hết và trên hết ông là một người tranh đấu, một nhà tổ chức.) (2) tr. 153: “Ho … has never been a theorist like Truong Chinh.” (Hồ … chưa bao giờ là lý thuyết gia như Trường Chinh.) Từ gần cuối thập niên 60 trở đi, khi chứng kiến chính sách hiếu chiến và tàn bạo của cộng sản, Jean Lacouture mới thấy mình sai lầm, dần dần từ bỏ lập trường thiên tả.
    66. Charles Fenn, sđd. tr. 47.
    67. Vũ Thư Hiên, sđd. tr. 459. Oliver Todd, bđd., sđd. tr. 276, 295.
    68. Gần đây, trên tạp chí Cộng Sản số 24 ra ngày 15-12-1999 có đăng bài “Tư tưởng Hồ Chí Minh với quá trình trưởng thành và chiến thắng của quân đội ta” của ông Võ Nguyên Giáp, đại tướng hưu trí quân đội cộng sản, được báo Lao Ðộng đăng lại và đưa lên trang Web ngày 20-12-1999. Trong bài nầy, về tư tưởng Hồ Chí Minh, có đoạn ông Võ viết:”Ðến với chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh đã có một chuyển biến nhảy vọt về chất, giải phóng dân tộc đã gắn với giải phóng giai cấp, giải phóng con người, độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa yêu nước gắn liền với chủ nghĩa quốc tế chân chính.”

    Phần thời sự báo Nhân Dân [Hà Nội] ngày 19-5-2000 [rút từ Internet], có đăng bài tường thuật hội thảo khoa học tổ chức tại Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh tại Hà Nội với đề tài: “Tư tưởng Hồ Chí Minh và cách mạng Việt Nam”, do ông Nguyễn Ðức Bình, uỷ viên bộ Chính trị, chủ tịch Hội đồng lý luận trung ương, Giám đốc Học viện chính trị, chủ trì cuộc hội thảo. Ngoài ông Nguyễn Ðức Bình, còn có các ông Võ Nguyên Giáp, Tố Hữu và các giáo sư, tiến sĩ, các nhà khoa học trong và ngoài học viện với 135 bài tham luận. Sau đây là đúc kết các ý kiến phát biểu của báo Nhân Dân: ” Các bản tham luận đều nghiên cứu sâu nhiều khía cạnh như Hồ Chí Minh với giáo dục tư tưởng XHCN; Hồ Chí Minh với văn hóa và khoan dung văn hóa; tư tưởng Hồ Chí Minh với chiến lược con người trong cách mạng XHCN ở Việt Nam; những quan điển cơ bản về chỉnh đốn Ðảng trong tư tưởng Hồ Chí Minh; về Nhà nước dân chủ trong tư tưởng Hồ Chí Minh; sự nghiệp xây dựng nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc; Hồ Chí Minh biểu tượng tinh thần quốc tế vô sản… và đi đến một nhận định thống nhất: Tư tưởng Hồ Chí Minh là sản phẩm của sự kết hợp chủ nghĩa Mác-Lênin với phong trào công nhân và phong trào yêu nước Việt Nam, là kết quả sự vận dụng sáng tạo và phát triển chủ nghĩa Mác-Lênin để giải quyết những vấn đề của cách mạng Việt Nam. Ðó là hệ thống quan điểm, lý luận về cách mạng giải phóng dân tộc và tiến lên CNXH ở các nước thuộc địa và phụ thuộc, là tư tưởng của sự kết hợp giải phóng dân tộc, giải phóng xã hội, giải phóng con người mà hạt nhân trung tâm là độc lập dân tộc gắn liền với CNXH.”

    Như thế, các nhà trí thức xuất sắc của đảng Cộng Sản Việt Nam hội họp tại Hà Nội để xác định một lần nữa rằng “tư tưởng Hồ Chí Minh” dựa trên căn bản học thuyết Mác-Lênin để giải phóng dân tộc…Quanh đi quẩn lại, vẫn không có gì mới mẻ, vẫn chừng đó chuyện, với những từ ngữ hoa mỹ theo kiểu cộng sản. Thật ra, chính Lenin đã dùng chiêu bài giải phóng và độc lập dân tộc, xúi giục các nước bị trị đứng lên chống các nước tư bản đế quốc, vì các các nước tư bản lúc đó là địch thủ của Liên Xô, đồng thời để Liên Xô bành trướng chủ nghĩa cộng sản, hình thành ra một loại đế quốc đỏ mới do Liên Xô lãnh đạo. Cũng vì Hồ Chí Minh đã gắn liền với chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa quốc tế cộng sản nên Việt Nam mới bị chiến tranh triền miên, và bị đói khổ như ngày nay.

    Ðiều đáng ghi nhận là khi sống nhiều năm tại Liên Xô (hai lần) trong các thập niên 20 và 30, Hồ Chí Minh đã chứng kiến rõ việc áp dụng chủ thuyết Mác-Lênin tại Liên Xô đã làm cho dân chúng nước nầy nghèo đói đến mức nào, nhưng vì tham vọng cá nhân, ông ta chẳng những không từ bỏ mà còn quyết đem về áp dụng tại Việt Nam.

    69. Sau đây là cuộc đối thoại giữa Oliver Todd và Nguyễn Khắc Viện, một tác giả cộng sản: “Tôi đùa với Viện: “Nếu Hồ không có thực thì chắc ông đã sáng chế ra.” Viện cười ha hả: “Lẽ dĩ nhiên, ông nên nhớ rằng nước chúng tôi trước hết là một nước nông nghiệp, chúng tôi thích thần thoại. Huyền thoại và huyền thoại, phải công nhận là huyền thoại do chúng tôi tạo ra thật là hấp dẫn.” (Oliver Todd, bđd., sđd. tt. 273-274.) Ðể hiểu thêm cung cách ngụy tạo huyền thoại của cộng sản, hãy cùng đọc đoạn sau đây của Trần Ðăng Khoa. Năm 1998 ở trong nước, Trần Ðăng Khoa ấn hành tác phẩm Chân dung và đối thoại, trong đó có bài “Tố Hữu và bài thơ Hoan hô chiến sĩ Ðiện Biên”. Trong bài nầy, Trần Ðăng Khoa kể lại rằng, trong một lần nói chuyện, ông ta đã hỏi Tố Hữu: “Thế từ lúc mở màn đến khi kết thúc chiến dịch, anh có lên Ðiện Biên bao giờ không? ” Tố Hữu trả lời:”Không! Nào mình có biết Ðiện Biên ở đâu mà đi. Ði sao được… Mình hỏi mấy chú đã đến Ðiện Biên rồi. Hỏi xem ở đấy có những cái gì, mới biết những địa danh như thế đấy chứ, biết cả ở đó có cam, có mơ … Sau nầy khi viết, mình cứ lôi nó ra, đưa vào thơ, cứ nhét bừa vào… Này, xem ra không thể tin được vào cánh văn nghệ được đâu hỉ. Phịa, toàn là phịa. Chỉ có điều là mình phịa như thật…” (Tài liệu rút từ Internet,
    http//www.vietbao.com/tc_canhen/Chandung_Doithoai, ngày 30-1-2000)
    70. Cuộc phỏng vấn do Thanh Thảo thực hiện, nguyệt san Việt Nam Dân Chủ, số 40, California, tháng 1-2000, tài liệu rút từ Internet).
    71. Sau đây là nhận xét về Hồ Chí Minh của một sử gia trẻ Hoa Kỳ, Robert Templer, trong một bài báo đăng trên Mercury News, được Trac Nguyen dịch đăng trên Việt Mercury ở California, ra ngày 31-3-2000, dưới nhan đề “Một quan điểm về vụ triển lãm chân dung Hồ Chí Minh”: “Ông [Hồ Chí Minh] đã cho ám sát các kẻ thù chính trị, đã phát động những cuộc cải cách điền địa tàn bạo. Ông đã im lìm trong lúc các đồng chí thân thiết bị thanh trừng. Ông đã khởi sự một cuộc chiến tranh sát hại 3 triệu con người. Ðối với ông Hồ, con người có thể bị hy sinh; cứu cánh luôn luôn biện minh cho phương tiện.”

    • Từ đây có thể thấy xào huyệt của bọn phản động là ở California. Các tư liệu về sách chủ yếu là của bọn phản động viết và cho xuất bản ở California ==> Không có giá trị pháp lí ở Việt Nam. Có chăng chỉ là những lời nói không có cơ sở hay của bọn giàu có của chế độ cũ do căm ghét quân đội VN đã làm cho chúng trở thành những con chó cùng đường và cuối cùng phải chạy qua nước khác bỏ lại sau lưng cái khoảnh khắc huy hoàng giàu sang của chúng.

  13. Lột Trần Huyền Thoại Hồ Chí Minh

    1.- HUYỀN THOẠI VỀ NGƯỜI CHA

    Theo sách Chủ tịch Hồ Chí Minh, tiểu sử và sự nghiệp, của nhà xuất bản Sự thật (Hà Nội), Hồ Chí Minh ‘sinh ra trong một gia đình nhà nho yêu nước, nguồn gốc nông dân. Cụ thân sinh ra Người [họ Hồ] là Nguyễn Sinh Huy, tức Nguyễn Sinh Sắc (1863-1929) …đỗ phó bảng và sống thanh bạch bằng nghề dạy học. Đối với các con, cụ giáo dục ý thức lao động và cho học tập để hiểu ‘đạo lý làm người’. Sau khi đỗ phó bảng, bị bọn thống trị thúc ép nhiều lần, cụ ra làm quan, nhưng thường tỏ thái độ tiêu cực, không hợp tác với chúng. Cụ thường nói: ‘Quan trường thị nô lệ trung chi nô lệ, hựu nô lệ’, nghĩa là ‘Quan trường là nô lệ trong những người nô lệ, lại càng nô lệ hơn’. Vốn có tinh thần yêu nước, khảng khái, cụ thường chống đối bọn quan trên và bọn thực dân Pháp, cho nên sau một thời gian rất ngắn, cụ bị chúng cách chức. Cụ vào Nam bộ làm nghề thầy thuốc, sống cuộc đời thanh bạch, cho đến lúc từ trần.

    Ông Nguyễn Sinh Sắc quả thật đã đỗ phó bảng năm 1901 (tân sửu) cùng một lần với Nguyễn Đình Hiến, Phan Chu Trinh.. Tuy nhiên, Nguyễn Sinh Sắc không hề bị ‘bọn thống trị thúc ép nhiều lần’ sau khi đỗ phó bảng mới chịu ra làm quan. Ông Sắc đã xin đi làm quan ngay sau khi đỗ cử nhân và trước khi đỗ phó bảng. Nguyên vào năm 1894, Nguyễn Sinh Sắc đỗ cử nhân tại trường thi Nghệ An. Năm sau (1895), ông Sắc vào Huế thi hội bị hỏng, đã xin đi làm hành tẩu bộ Hộ. Ba năm sau, ông hỏng kỳ thi hội một lần nữa vào năm 1898. Trước khi dự kỳ thi hội năm 1901, ông Sắc còn tham dự hội đồng giám khảo chấm thi kỳ thi hương tại Bình Định năm 1897 và Thanh Hóa năm 1900. Sau khi đỗ phó bảng trong kỳ thi hội và thi đình năm 1901, ông làm thừa biện bộ Lễ từ 1902 đến 1909, rồi đi tri huyện Bình Khê (Bình Định) tháng 5 năm đó. Từ thừa biện đi tri huyện là thăng chức chứ không phải xuống chức.

    Nguyễn Sinh Sắc bị sa thải chứ không phải bị cách chức.(6) Lý do sa thải cũng không phải vì ‘vốn có tinh thần yêu nước, khảng khái, cụ thường chống đối bọn quan trên và bọn thực dân Pháp ‘. Ông bị sa thải vì đã hành xử tàn bạo với dân chúng. Trong một cơn say rượu, Nguyễn Sinh Sắc đã dùng roi mây trừng phạt và đánh chết một người tù vào tháng 1-1910. Gia đình người nầy kiện lên cấp trên. Dù tri huyện Nguyễn Sinh Sắc đã chối cãi rằng không phải vì trận đòn của ông mà người kia chết, ông vẫn bị triều đình ra sắc chỉ ngày 17-9-1910 phạt đánh 100 trượng. Hình phạt nầy được chuyển đổi qua hạ bốn cấp quan lại và sa thải.(7) Lý do chuyển đổi hình phạt để Nguyễn Sinh Sắc khỏi bị đánh đòn có lẽ nhắm giữ thể diện của một quan chức triều đình, và nhất là vị nầy lại là người có học vị cao. Ông Sắc nghiện rượu từ khi còn ở Huế. Chị của Hồ Chí Minh, bà Nguyễn Thị Thanh (1884-1954), vào Huế thăm cha năm 1906. ‘Bà không thể chịu đựng lâu ngày thái độ cộc cằn thô lỗ của cha bà, nay đã mắc phải tật nghiện rượu và thường hay đánh đập bà ‘.( Do đó, năm sau bà bỏ Huế ra Nghệ An trở lại, mà không sống với cha.

    Phải chăng câu: ‘Quan trường thị nô lệ trung chi nô lệ, hựu nô lệ ‘ (Quan trường là nô lệ trong những người nô lệ, lại càng nô lệ hơn) là do những cán bộ cộng sản bịa ra, rồi gán cho ông Nguyễn Sinh Sắc để đả kích chế độ quân chủ? Hay phải chăng vì bị đuổi ra khỏi ngành quan lại nên Nguyễn Sinh Sắc mới bất mãn và thốt lên câu: ‘Quan trường thị nô lệ trung chi nô lệ, hựu nô lệ ‘ (Quan trường là nô lệ trong những người nô lệ, lại càng nô lệ hơn). Nếu không, Nguyễn Sinh Sắc hăng hái xin đi làm quan làm gì, và sau nầy con ông, Nguyễn Tất Thành (Hồ Chí Minh) còn gởi thư đến viên Khâm sứ Pháp tại Huế xin cho ông một chức quan nhỏ nữa.

    Ngày 26-2-1911, Nguyễn Sinh Sắc xuống tàu từ Đà Nẵng vào Sài Gòn. Ông ở lại Sài Gòn một thời gian, dạy chữ Nho cho nhà báo Diệp Văn Kỳ,(9) rồi đi Lộc Ninh làm giám thị đồn điền. Từ đó, ông không bao giờ trở ra Nghệ An. Ông sống lang thang ở miền Nam bằng nghề đông y, và nghề viết liễn đối cho dân chúng. Gần cuối đời, ông đến định cư tại làng Hội Hòa An, Sa Đec, và từ trần ngày 29-11-1929.(10)

    Khi Nguyễn Sinh Sắc bị bãi chức và sống lang thang nghèo khổ ở miền Nam, con ông ta là Nguyễn Tất Thành, tức Hồ Chí Minh, ra nước ngoài năm 1911, đã viết thư từ New York ngày 15-12-1912 cho viên khâm sứ Pháp tại Huế tha thiết ‘… cầu mong Ngài [chỉ khâm sứ Pháp] vui lòng cho cha tôi [cha của Thành tức ông Sắc] được nhận một công việc như thừa biện ở các bộ, hoặc huấn đạo, hay giáo thụ để cha tôi sinh sống dưới sự quan tâm cao quý của Ngài…’(11)

    Vậy huyền thoại về người cha của Hồ Chí Minh là một người yêu nước, chống đối chính quyền Pháp nên bị cách chức, là chuyện hoàn toàn bịa đặt do Ban Nghiên cứu Lịch sử trung ương đảng Cộng Sản Việt Nam đưa ra nhắm là tăng giá trị cho lãnh tụ của họ.

    Tưởng cũng nên thêm ở đây một phát hiện của ông Trần Quốc Vượng, sử gia Hà Nội hiện nay. Trong sách Trong cõi của Trần Quốc Vượng, có bài ‘Lời truyền miệng dân gian về nỗi bất hạnh của một số nhà trí thức Nho gia (kinh nghiệm điền dã)’. Phần cuối của bài nầy cho biết rằng ông Nguyễn Sinh Sắc, phụ thân của Hồ Chí Minh, không phải là con của ông Nguyễn Sinh Nhậm. Trước khi đám cưới, bà vợ của ông Nguyễn Sinh Nhậm đã có mang với cử nhân Hồ Sĩ Tạo, cho nên ông Nguyễn Sinh Nhậm chỉ là người cha trên giấy tờ của ông Nguyễn Sinh Sắc mà thôi. Ông Trần Quốc Vượng viết: ‘Nguyễn Ái Quốc sau cùng đã lấy lại họ Hồ vì cụ biết ông nội đích thực của mình là cụ Hồ Sĩ Tạo, chứ không phải là cụ Nguyễn Sinh Nhậm’. (12)

    2.- HUYỀN THOẠI RA ĐI TÌM ĐƯỜNG CỨU NƯỚC

    Tài liệu của đảng Cộng Sản Việt Nam đều viết rằng ngày 5-6-1911, thanh niên Nguyễn Tất Thành đã xuống tàu Amiral Latouche-Tréville để ra đi tìm đường cứu nước. Sau đây là lời trong sách Lịch sử Việt Nam của nhà cầm quyền cộng sản Hà Nội:

    ‘Sự thất bại của các phong trào Đông Du, Đông Kinh Nghĩa Thục của cuộc vận động Duy Tân và phong trào chống thuế ở các tỉnh Trung Kỳ mà Người [Hồ Chí Minh] từng tham gia khi đang học ở trường Quốc Học Huế, đã thôi thúc Người [HCM] hướng về các nước Tây Âu, mong muốn được đến ‘tìm xem những gì ẩn giấu đằng sau những Tự do, Bình đẳng, Bác ái’. Sau khi rời Huế vào Phan Thiết … …Được ít lâu, lấy tên là Văn Ba, Người [HCM] xin làm phụ bếp trên chiếc tàu thủy Đô đốc La Tusơ Tơrêvin (La Touche Tréville), thuộc hãng vận tải hợp nhất của Pháp, để đi ra nước ngoài ‘xem nước Pháp và các nước khác làm như thế nào rồi sẽ trở về giúp đồng bào’…’(13)

    Sách Chủ Tịch Hồ Chí Minh, tiểu sử và sự nghiệp của nhà xuất bản Sự Thật giải thích sự ra đi của Hồ Chí Minh cũng gần giống như thế: ‘… Ít lâu sau, Hồ Chủ tịch vào Sài Gòn. Nam Kỳ dưới chế độ thuộc địa cũng chẳng khác gì Trung Kỳ dưới chế độ bảo hộ và Bắc kỳ dưới chế độ nửa thuộc địa, nửa bảo hộ. Ở đâu nhân dân cũng bị áp bức, bóc lột, đồng bào cũng bị đọa đày, khổ nhục. Điều đó càng thôi thúc Hồ Chủ tịch đi sang các nước Âu tây để xem nhân dân các nước ấy làm như thế nào mà trở nên độc lập, hùng cường, rồi sẽ trở về ‘giúp đỡ đồng bào’ đánh đuổi thực dân Pháp. Ý định ấy của Người [HCM] đã dẫn Người từng bước đi tới tìm một phương hướng mới cho sự nghiệp cứu nước của nhân dân ta.’(14)

    Trong sách Những mẩu chuyện về đời hoạt động của Hồ Chủ Tịch, cũng do nhà xuất bản Sự Thật ấn hành, trả lời phỏng vấn tác giả Trần Dân Tiên, Hồ Chí Minh nói về lý do ra đi như sau:’…Tôi muốn đi ra nước ngoài, xem nước Pháp và các nước khác. Sau khi xem xét họ làm như thế nào, tôi sẽ trở về giúp đồng bào chúng ta…’(15)

    Trần Dân Tiên chính lại là Hồ Chí Minh. Ông dùng một tên khác viết sách tự ca tụng mình. Tại Việt Nam cũng như trên thế giới, đã có nhiều người viết sách về hoạt động của mình, đôi khi để tự khen mình, hoặc để biện hộ cho những việc làm của mình, nhưng họ đề tên thật, chịu trách nhiệm về những điều họ viết. Hồ Chí Minh dùng một tên khác tự ca tụng mình là một sáng kiến kỳ lạ chưa một người tự trọng nào dám nghĩ đến.

    Như thế, qua các sách của nhà cầm quyền cộng sản và qua chính những lời viết của Hồ Chí Minh, ông ta đi ra nước ngoài nhắm mục đích tìm đường cứu nước, nhưng trong thời gian gần đây, nhiều tác giả đã tìm được những chứng liệu cụ thể cho thấy rằng Hồ Chí Minh ra đi không phải để tìm đường cứu nước, mà chỉ vì lý do kinh tế gia đình.

    Trong bài ‘Từ mộng làm quan đến đường cách mạng Hồ Chí Minh và Trường Thuộc Địa’, hai tác giả Nguyễn Thế Anh và Vũ Ngự Chiêu đã phổ biến ảnh sao (photocopy) hai lá thư của Nguyễn Tất Thành đề ngày 15-9-1911 gởi cho tổng thống Pháp và bộ trưởng bộ Thuộc Địa Pháp, xin hai ông ban ân huệ cho Thành được đặc cách vào học Trường Thuộc Địa Paris, nơi đào tạo quan lại cho các thuộc địa Pháp trong đó có Đông Dương. Phần chính trong nội dung của hai lá thư nầy hoàn toàn giống nhau. Đó là: ‘Tôi xin trân trọng thỉnh nguyện lòng hảo tâm của ông ban cho tôi đặc ân được nhận vào học nội trú Trường Thuộc Địa. Tôi hiện đang làm công trong công ty Chargeurs Réunis để sinh sống (trên tàu Amiral Latouche-Tréville). Tôi hoàn toàn không có chút tài sản nào, nhưng rất khao khát học hỏi. Tôi ước mong trở nên hữu ích cho nước Pháp đối với đồng bào tôi, đồng thời làm thế nào cho họ hưởng được ích lợi của nền học vấn…’(16)

    Hai lá đơn trên đều bị bác, Nguyễn Tất Thành tiếp tục hành nghề trên các tàu biển. Ngày 15-12-1912, từ New York, Hoa Kỳ, Nguyễn Tất Thành gởi đến viên khâm sứ Pháp tại Huế một lá thư rất thống thiết xin một đặc ân là ban cho cha là Nguyễn Sinh Sắc, một chức việc nhỏ như giáo thụ hay huấn đạo, để ông nầy có điều kiện sinh sống.

    Hai lá đơn trên cùng với lá thư gởi năn nỉ viên khâm sứ Pháp tại Huế cho thấy lúc mới ra đi, Nguyễn Tất Thành chỉ nhắm mục đích sinh nhai. Vì sinh kế gia đình, lúc đó Nguyễn Tất Thành sẵn sàng thỏa hiệp với người Pháp để kiếm một chức quan cho cá nhân ông (bằng cách xin vào học Trường Thuộc Địa), hoặc cho phụ thân ông.

    Điều nầy là chuyện bình thường của đời sống con người. Lớn lên, ai ai cũng phải kiếm cách mưu sinh để tự nuôi sống mình và nuôi sống gia đình. Hơn nữa, điều nầy còn có nghĩa là Nguyễn Tất Thành không phải ra đi tìm đường cứu nước. Việc ra đi tìm đường cứu nước chỉ là sản phẩm tưởng tượng sau nầy của Hồ Chí Minh và đảng Cộng Sản, nhắm làm đẹp cho việc ra đi của họ Hồ để lôi cuốn quần chúng trên đường hoạt động chính trị.

    3.- HUYỀN THOẠI CUỘC SỐNG ĐỘC THÂN GIẢN DỊ

    Hồ Chí Minh cũng như ban Nghiên cứu Lịch sử đảng trung ương luôn luôn đề cao rằng ông ta suốt đời sống độc thân, không lập gia đình, để có thể toàn tâm toàn ý phục vụ nhân dân. Sự thật, dù Hồ Chí Minh đi đâu, ở nơi nào, cũng đều có bóng dáng của người đàn bà trong suốt cuộc đời hoạt động của ông.

    Theo giáo sư Nguyễn Thế Anh, khi hành nghề nhiếp ảnh ở Paris, Nguyễn Ái Quốc (Hồ Chí Minh) đã gởi thư tỏ tình với cô Bourdon ngày 10-5- 1923. Sau vài cuộc gặp gỡ và thư từ qua lại, cô Bourdon viết thư ngày 11-6-1923 cự tuyệt mối tình của Nguyễn Ái Quốc. Giáo sư Nguyễn Thế Anh còn trưng dẫn nhiều tài liệu cho thấy khi qua Moscow, nhà cầm quyền Liên Xô đã cung cấp cho Nguyễn Ái Quốc một ‘người vợ’.(17)

    Đến Quảng Châu (Trung Hoa), Nguyễn Ái Quốc, lúc đó lấy tên là Lý Thụy kết hôn với một người phụ nữ Trung Hoa là Tăng Tuyết Minh năm 1926. Bà nầy bị thất lạc sau cuộc chiến Quốc Cộng ở Trung Hoa năm 1927.(16) Theo một tài liệu khác, thì trong thời gian nầy, Lý Thụy còn sống với một phụ nữ Trung Hoa thứ nhì là Lý Huệ Khanh, em của Lý Huệ Quần. Lý Huệ Quần là vợ của Lâm Đức Thụ, một đồng chí của Lý Thụy. Tài liệu nầy giải thích rằng Nguyễn Ái Quốc đổi tên thành Lý Thụy là theo họ của Lý Huệ Khanh cho dễ hoạt động.(19) Khi cảnh sát Hồng Kông bắt Lý Thụy ngày 6-6-1931 tại thị trấn Cửu Long, gần Hồng Kông, ông đang sống với một phụ nữ Trung Hoa tên là Li Sam. Khi Lý Thụy đến Vân Nam, tướng Long Vân (Lung Yun) đã tìm cho ông một nhân tình người Tàu.(20)

    Từ năm 1930, ở Hồng Kông, Lý Thụy dạy chính trị cho Nguyễn Thị Minh Khai tại trụ sở chi nhánh Bộ Đông phương của Quốc tế cộng sản. Sau một thời gian, hai người trở thành vợ chồng, và khi qua Liên Xô tham dự đại hội cộng sản quốc tế ngày 25-7-1935, hai người công khai sống chung.(21) Năm 1944, Hồ Chí Minh về hoạt động tại vùng Pắc Bó, Cao Bằng. Ở đây, theo sử gia và nhà hoạt động chính trị Trần Trọng Kim, ông Hồ sống chung với bà Đỗ Thị Lạc, bí danh ‘chị Thuần’, và sinh hạ một người con gái.(22)

    Sau cuộc sống chung tạm bợ với Đỗ Thị Lạc, Hồ Chí Minh bị cuốn hút vào những biến chuyển lịch sử cho đến năm 1954, ông Hồ về Hà Nội. Theo tài liệu của Vũ Thư Hiên và Nguyễn Minh Cần, bộ chính trị đảng Lao Động đã đưa một cô gái thuộc sắc tộc Nùng ở Cao Bằng là Nông Thị Xuân (có sách viết Nguyễn Thị Xuân) về phục vụ Hồ Chí Minh năm 1955. Lúc đó, ông Hồ khoảng 65 tuổi và bà Xuân có lẽ khoảng trên dưới 22 tuổi, khá xinh đẹp: ‘Cô Xuân rất xinh gái, da trắng nõn, miệng tươi như hoa’.(23) Năm sau, bà Xuân sinh hạ một người con trai được đặt tên là Nguyễn Tất Trung. Sau một thời gian chung sống, Hồ Chí Minh sa thải bà Xuân. Viên bộ trưởng công an Hà Nội là Trần Quốc Hoàn đã hiếp dâm bà Xuân, rồi cho người thủ tiêu một cách tàn bạo.(23)

    Trong thời gian nầy, đảng Lao Động còn có ý định đưa cô Nguyễn Thị Phương Mai, tỉnh uỷ viên tỉnh Thanh Hóa, về Hà Nội để làm vợ Hồ Chí Minh. Cô Phương Mai đòi công khai hóa cuộc hôn nhân giữa hai người, thì bị từ chối, nên cô rút lui.(24) Năm 1959, Đào Chú, uỷ viên thường vụ bộ chính trị đảng Cộng Sản, Phó thủ tướng chính phủ Trung Quốc sang Việt Nam nghỉ dưỡng. Một bộ trưởng trong chính phủ Hà Nội đã nói riêng với Đào Chú rằng Hồ Chí Minh muốn tái hôn với một người vợ Quảng Đông. Đào Chú rất hoan hỷ giúp đỡ, nhưng thủ tướng Trung Quốc là Chu Ân Lai đã thận trọng yêu cầu phía Việt Nam xem xét vấn đề cẩn thận. Hội nghị do Lê Duẩn triệu tập đã đi đến quyết định là phải bảo vệ hình tượng Hồ Chí Minh, nên việc ông Hồ muốn tái hôn với một phụ nữ Quảng Châu đã không thành.(25) Hồ Chí Minh cho Đào Chú biết ông muốn tái hôn, có nghĩa là ông Hồ tự thú nhận đã kết hôn một lần nào đó rồi.

    Như thế huyền thoại thứ ba về Hồ Chí Minh, hy sinh cuộc sống cá nhân, sống độc thân để toàn tâm toàn ý lo việc nước, là một câu chuyện bí mật giấu đầu lòi đuôi. Hồ Chí Minh có vợ là một chuyện bình thường, nhưng bản thân Hồ Chí Minh và đảng Cộng Sản trước sau luôn luôn che đậy việc nầy để lừa bịp nhân dân Việt Nam và dư luận thế giới. Kết hôn, lập gia đình là điều chẳng có gì xấu xa, nhưng xử sự tàn bạo với những người đã từng sống với mình, che đậy việc kết hôn, lừa bịp trắng trợn mọi người là điều mà không một nền luân lý nào chấp nhận.

    Sau khi Hồ Chí Minh từ trần, trong lời kêu gọi đưa ra ngày 3-9-1969, đảng Lao Động Việt Nam (tức đảng CSVN) đã viết: ‘…Cuộc đời của Người là một tấm gương chói lọi của chủ nghĩa anh hùng cách mạng, của tinh thần đoàn kết, của đạo đức giản dị, khiêm tốn, cần kiệm liêm chính, chí công vô tư…’(26) Hãy nhìn vào cách sống của Hồ Chí Minh để biết ông có phải là người ‘giản dị, khiêm tốn’ hay không?

    Trước hết, chế độ Hà Nội tuyên truyền rằng Hồ Chí Minh sống trong một ngôi nhà sàn bằng gỗ. Nghe chữ ‘nhà sàn’, người Việt thường liên tưởng đến những ngôi nhà của người miền núi, làm bằng gỗ, cách mặt đất khoảng một thước, phía dưới dùng để cất giữ dụng cụ hay nhốt gia súc, hoặc liên tưởng đến những nhà sàn của một số cư dân ven sông hay dọc các kênh đào. Những ngôi nhà sàn nầy rất đơn sơ, giản dị. Ấn tượng giản dị khiến nhiều người tưởng tượng rằng ngôi nhà sàn của Hồ Chí Minh có lẽ cũng thế, và cũng tưởng rằng Hồ Chí Minh sống rất bình dân. Thực tế hoàn toàn không như vậy. Những du khách đã từng viếng ngôi nhà sàn của ông Hồ, hoặc những ai đã từng nhìn ngôi nhà sàn nầy qua phim ảnh, rồi so sánh với nhà sàn của người miền núi hoặc của những người sống ven sông, sẽ có cảm nghĩ khác. Ngôi nhà sàn của ông Hồ có vẻ giản dị một cách cố ý, lại rất sang trọng, xây dựng bằng loại gỗ cực tốt, trang bị đầy đủ theo tiện nghi thời đại, có người chăm sóc cẩn thận, và gần như là nhà nghỉ mát mùa hè, hoặc nơi ông đón tiếp du khách. Như vậy ngôi nhà sàn của ông Hồ chỉ là loại trang trí mắc tiền.

    ‘Áo quần lên sân khấu rất quan trọng: luôn luôn giản dị (áo quần màu chàm). Đối với Hồ cũng như Staline, Mao, hoặc Kim Nhật Thành, sự giản dị được nghiên cứu kỹ lưỡng. Áo quần cắt may thô sơ theo kiểu Kroutchev hoặc Ceaucescu, biểu tượng của một thế hệ lãnh đạo cộng sản. Điều đặc biệt của Hồ trong giới lãnh đạo cộng sản là Hồ đi dép lốp (trên nguyên tắc cắt từ lốp xe hơi) … Còn gì ăn ảnh hơn dù là tiền chiến hay hiện đại ‘Bác’ Hồ đi dép lốp trên màn ảnh.’(27)

    Hồ Chí Minh duy nhất chỉ để lộ một sở thích phàm tục rất người, đó là ông thích hút thuốc thơm Hoa Kỳ, đặc biệt là Camel hay Lucky Strike. (2 Không biết đây là dàn kịch để chứng tỏ ông ta cũng bình thường như mọi người, hay quả thật ông ta thích hút thuốc Mỹ. Dầu sao, cuộc sống của ông Hồ không giản dị như người ta tưởng.

    Trong sách Những mẩu chuyện về đời hoạt động của Hồ Chủ Tịch, Trần Dân Tiên (chính là Hồ Chí Minh) đã viết trong phần đầu sách: ‘Một người như Hồ Chủ tịch của chúng ta, với đức khiêm tốn nhường ấy và đương lúc bề bộn bao nhiêu công việc, làm sao có thể kể lại cho tôi nghe bình sinh của người được?’(29) Một người dùng một cái tên khác viết sách, tự khen mình là khiêm tốn không muốn nói về mình, rồi sau đó, suốt trong quyển sách lại kể lể tự đề cao sự nghiệp của mình, thì không biết nên xếp ông ta vào loại người gì đây?

    Cuối sách nầy, Trần Dân Tiên (tức Hồ Chí Minh) viết: ‘Nhân dân gọi Chủ tịch là cha già của dân tộc, vì Hồ Chủ tịch là người con trung thành nhất của Tổ quốc Việt Nam.’(30). Lời nầy cho thấy Hồ Chí Minh muốn gợi ý để được người Việt Nam gọi ông là cha già của dân tộc, nhưng không được dân chúng hưởng ứng, nên ông quay qua dùng chữ ‘bác’. Ở đây lại thấy ông Hồ thậm khôn, vì trong cơ cấu gia tộc Việt Nam, bác là anh của cha, bác lớn hơn cha và đứng trước cha trong sinh hoạt đại gia đình, hoặc lễ nghi tế tự.

    Theo Thành Tín, tức Bùi Tín, cựu đại tá quân đội cộng sản Hà Nội, cựu phó tổng biên tập báo Nhân Dân, Hồ Chí Minh công khai tự xưng là ‘bác’ năm 1945 trước quần chúng, lúc đó ông khoảng 55 tuổi.(31) Nói chuyện với dân chúng, trong đó có cả những người già cả, đáng tuổi ông, cha, chú, anh, chị mình mà xưng bác thì xin khỏi bàn về tư cách của ‘bác’.

    Chẳng những thiếu kính trọng với người đang sống, Hồ Chí Minh còn tỏ ra thiếu lễ độ đối với những người trước ông hàng mấy trăm năm. Hãy đọc những câu thơ của Hồ Chí Minh qua bài ‘Ngẫu hứng’ ông viết vào dịp viếng đền thờ Hưng Đạo Đại Vương Trần Quốc Tuấn (1226-1300) khoảng trước năm 1950:

    “Bác anh hùng, tôi cũng anh hùng,
    Tôi, bác cùng chung nghiệp kiếm cung.
    Bác thắng quân Nguyên thanh kiếm bạc,
    Tôi trừ giặc Pháp ngọn cờ hồng.
    Bác đưa một nước qua nô lệ
    Tôi dắt năm châu đến đại đồng.
    Bác có linh thiêng cười một tiếng
    Rằng tôi cách mạng đã thành công
    .”(21)

    Tự phong mình là anh hùng đã là chuyện lạ, gọi một vĩ nhân của lịch sử sống cách đây hơn 600 năm bằng ‘bác’ là một sự vô lễ chưa bao giờ xảy ra trong lịch sử Việt Nam. Khi Quốc sử quán triều Nguyễn trình Khâm định Việt sử thông giám cương mục lên vua Tự Đức (trị vì 1847- 1883) duyệt, trong khung cảnh xã hội vua là thiên tử (con trời), nhà vua đã phê bình nhiều nhân vật lịch sử, đôi khi với lời lẽ gay gắt, nhưng chưa bao giờ nhà vua có ngôn ngữ sỗ sàng thiếu lễ độ như Hồ Chí Minh. Hồ Chí Minh tưởng rằng gọi Trần Hưng Đạo bằng ‘bác’ là có thể tự nâng mình lên ngang tầm với người xưa, nhưng ngược lại những lời nầy cho thấy hố cách biệt lớn lao giữa một vị thánh và một kẻ tự phụ hợm mình. Chẳng những thế, người Việt Nam xưng tụng đức Trần Hưng Đạo là thánh, nên cách xưng hô của họ Hồ xúc phạm đến cả niềm tin của dân chúng Việt Nam. Nếu nói rằng bài thơ nầy là ‘thơ khẩu khí’, thì càng thấy ‘khẩu khí’ của Hồ Chí Minh chẳng khiêm cung tý nào.

    Hồ Chí Minh là chủ tịch miền Bắc, ông có quyền sống một cách tiện nghi đầy đủ để làm việc; thậm chí ông có quyền tận hưởng mọi lạc thú trên đời sau khi đã dày công cực khổ tranh đấu; ông có quyền lực to lớn của một chủ tịch nhà nước độc tài; ông có thể vượt qua luật pháp ra lệnh sinh sát mọi người; ông có thể làm bất cứ việc gì ông muốn dưới chế độ độc tài; nhưng nói rằng họ Hồ là người ‘giản dị khiêm tốn’ là điều hoàn toàn sai sự thật.

    4.- HUYỀN THOẠI ĐOÀN KẾT DÂN TỘC

    Hồ Chí Minh luôn luôn hô hào đoàn kết dân tộc. Một trong những khẩu hiệu ưng ý của họ Hồ là ‘đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết; thành công, thành công đại thành công.’(33) Sau đây là các cách thức đoàn kết của Hồ Chí Minh và đảng Cộng sản Việt Nam.

    * Đoàn kết là tiêu diệt tất cả mọi người bất đồng chính kiến bằng bất cứ giá nào để giành quyền lực: Khoảng giữa tháng 11-1924, Hồ Chí Minh, lúc đó có tên là Lý Thụy, đáp tàu từ Vladivostok (viễn đông Liên Xô) đi Quảng Châu (Trung Hoa) với vai trò thông ngôn của phái bộ cố vấn Borodin bên cạnh chính phủ Tôn Dật Tiên trong thời kỳ liên minh quốc cộng đầu tiên ở Trung Hoa. Đến Quảng Châu, Lý Thụy bắt đầu gây dựng cơ sở đảng Cộng Sản Việt Nam. Nhà lãnh đạo cách mạng Việt Nam uy tín nhất ở Trung Hoa thời bấy giờ là Phan Bội Châu. Để giành lấy tổ chức của Phan Bội Châu, một trong những việc làm đầu tiên của Lý Thụy ở Quảng Châu là bán tin tức cho Pháp bắt Phan Bội Châu khi ông Phan đi từ Hàng Châu đến Thượng Hải ngày 1-7-1925.(34) Từ đó, những người hoạt động cách mạng ở Trung Hoa thiếu người lãnh đạo, dần dần ngả về theo nhóm cộng sản của Lý Thụy. Chẳng những chỉ một mình Phan Bội Châu, mà những cán bộ cách mạng nào không theo phe Lý Thụy, đều bị Lý Thụy bán tin cho Pháp bắt trên đường về Việt Nam hoạt động.(35)

    Trong cuộc tổng khởi nghĩa của Việt Nam Quốc Dân Đảng năm 1930, các đảng viên cộng sản áp dụng đúng sách vở của Lý Thụy, rải truyền đơn tố cáo Quốc Dân Đảng sẽ tấn công Bắc Kỳ để Pháp đề phòng và lùng bắt các đảng viên QDĐ. Nguyễn Thị Giang đã đưa các tờ truyền đơn nầy cho Nguyễn Thái Học xem, nhưng Nguyễn Thái Học vẫn không tin là những đảng phái cách mạng Việt Nam cùng chống Pháp lại có thể hại nhau như thế.(36)

    Năm 1945, Nhật Bản thất trận và đầu hàng Đồng Minh. Tại hội nghị Potsdam (thị trấn ngoại ô Berlin), đại diện các nước Đồng Minh đưa ra tối hậu thư cho Nhật, trong đó quyết định về vấn đề Đông Dương như sau: quân đội Nhật sẽ bị giải giới do người Trung Hoa (Quốc Dân Đảng) ở phía bắc vĩ tuyến 16, và do người Anh ở phía nam vĩ tuyến 16. Tối hậu thư không nói ai sẽ cầm quyền sau khi quân đội Nhật bị giải giới. Lợi dụng khoảng trống chính trị nầy, Mặt trận Việt Nam Độc Lập Đồng Minh Hội, gọi tắt là Việt Minh, gồm nòng cốt là đảng viên cộng sản, tổ chức cướp chính quyền. Việt Minh đã giết hại và thủ tiêu vô số người yêu nước không đi theo chủ trương đường lối của Việt Minh. Những tên tuổi lớn đều bị Việt Minh giết hại như Phạm Quỳnh (1945), Ngô Đình Khôi (1945), Tạ Thu Thâu (1945), Bùi Quang Chiêu (1945), Phan Văn Hùm (1945), Trương Tử Anh (1946), Huỳnh Phú Sổ (1947), Khái Hưng (1947)… Việt Minh thủ tiêu hàng loạt các đảng viên Quốc Dân Đảng, các nhà trí thức khác, bà hàng ngàn tín đồ đạo Cao Đài.(37) Việt Minh thủ tiêu tất cả những ai có thể tranh quyền với Việt Minh, từ trung ương, ở các thành phố lớn, đến những đơn vị nhỏ nhất ở các làng xã.

    Như vậy, ý nghĩa thứ nhất về việc đoàn kết và liên hiệp đối với Hồ Chí Minh và đảng Cộng Sản, là sự sáp nhập hay tiêu diệt tất cả các phe nhóm hay cá nhân đối lập với Cộng Sản bằng bất cứ giá nào, bằng bất cứ phương tiện gì, để chỉ còn lại những ai chịu ‘đoàn kết’ chấp nhận vâng phục cộng sản. Chỉ khi nào thất thế, gặp nhiều trở lực, Hồ Chí Minh và đảng Cộng Sản mới sử dụng cách đoàn kết thứ nhì.

    * Đoàn kết là tạm thời nhượng bộ, liên minh giai đoạn để vượt khó khăn: Cũng trong năm 1945, sau khi lập chính phủ đầu tiên ngày 2-9, gồm đại đa số đảng viên cộng sản, Hồ Chí Minh gặp nhiều trở ngại về phía người Pháp theo chân người Anh đến Đông Dương, và từ từ tiến ra Bắc; về phía người Trung Hoa (Quốc Dân Đảng) đang từ biên giới tiến xuống Hà Nội theo thỏa ước Potsdam; và về phía những đảng phái cách mạng Việt Nam như Việt Nam Quốc Dân Đảng (Việt Quốc), Việt Nam Cách Mạng Đồng Minh Hội (Việt Cách). Hồ Chí Minh đành phải nhượng bộ, tuyên bố giải tán đảng Cộng Sản Việt Nam ngày 11-11-1945, thực chất là đảng Cộng Sản rút vào hoạt động bí mật.(3? Họ Hồ tổ chức tổng tuyển cử ngày 6-1, và thành lập chính phủ liên hiệp ngày 2-3-1946 gồm cả những lãnh tụ Việt Cách và Việt Quốc như Nguyễn Hải Thần, Trương Đình Tri, Nguyễn Tường Tam, Vũ Hồng Khanh, Chu Bá Phượng, Nghiêm Kế Tổ … Ngay sau khi ký kết được với Pháp Hiệp định Sơ bộ ngày 6-3, tạm hòa hoãn với Pháp, và mua chuộc được các tướng lãnh Trung Hoa để họ rút quân về nước, nghĩa là vừa thoát qua được khó khăn, Hồ Chí Minh thẳng tay loại bỏ ngay các lãnh tụ không phải là Việt Minh ra khỏi chính phủ, khủng bố, giết hại nhân viên các đảng phái quốc gia, nuốt chửng những kẻ đã từng liên hiệp với họ.

    Sách lược nầy được ứng dụng thêm một lần nữa với Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam thành lập ngày 20-12-1960. Lúc đầu, mặt trận nầy gồm một số đảng viên cộng sản làm nòng cốt và một số người chống chế độ Ngô Đình Diệm. Sau đó, những người không thuộc đảng Cộng Sản bị loại dần cho đến khi mặt trận chỉ còn lại những người của Cộng Sản Đảng mà thôi.

    Những người trước đây bất đồng chính kiến, nhưng khi gặp Hồ Chí Minh và đảng Cộng Sản, chịu khuất phục và chịu đi theo họ Hồ thì được sử dụng trong những giai đoạn và hoàn cảnh cần thiết. Ví dụ Trần Huy Liệu (1901-1969), chủ bút Đông Pháp Thời Báo (1925-1927), chi bộ trưởng chi bộ đặc biệt của Việt Nam Quốc Dân Đảng ở Sài Gòn, bị Pháp bắt đày Côn Đảo trong năm năm. Mãn hạn tù, ông ra bắc năm 1935 và gia nhập đảng Cộng Sản năm 1936. Năm 1939, ông bị Pháp bắt trở lại, đày đi Sơn La, rồi an trí năm 1942 ở Thái Nguyên, và Yên Bái. Năm 1945, ông trốn về Hà Nội làm báo Cứu Quốc của Việt Minh trong vòng bí mật. Khi Việt Minh cướp chính quyền ngày 2-9, ông được Hồ Chí Minh giao làm bộ trưởng bộ Tuyên Truyền trong chính phủ Việt Minh đầu tiên. Ông được cử làm trưởng phái đoàn Việt Minh gồm cả Nguyễn Lương Bằng và Cù Huy Cận (tức nhà thơ Huy Cận) vào Huế chứng kiến việc thoái vị của vua Bảo Đại tại cửa Ngọ Môn ngày 30-8-1945.

    Hồ Chí Minh giao Trần Huy Liệu làm bộ trưởng bộ Tuyên Truyền không phải vì tín nhiệm Trần Huy Liệu mà vì họ Hồ cần uy tín chính trị của ông. Trần Huy Liệu vốn là chi bộ trưởng chi bộ đặc biệt Quốc Dân Đảng tại Sài Gòn. Hồ Chí Minh sử dụng Trần Huy Liệu để tuyên truyền cho cái gọi là chính sách đoàn kết đảng phái của Việt Minh, nhắm lôi cuốn quần chúng theo họ, nhất là lôi cuốn các đảng viên Quốc Dân Đảng. Lúc bấy giờ do những hy sinh to lớn của Nguyễn Thái Học và các đồng chí, Quốc Dân Đảng rất có uy tín chính trị trên toàn quốc. Khi đã qua khỏi giai đoạn cần thiết, năm 1946, Hồ Chí Minh cử Trần Huy Liệu làm uỷ viên thường trực Quốc Hội. Cuối cùng, năm 1953, Trần Huy Liệu trở thành trưởng ban Nghiên cứu Sử Địa của nhà cầm quyền cộng sản, một chức vụ không có quyền hành.

    Không chỉ riêng trường hợp Trần Huy Liệu, mà còn nhiều nhân vật tiếng tăm khác cũng rơi vào trường hợp ông, như Huỳnh Thúc Kháng, Phan Anh, Nguyễn Phương Thảo (tức tướng Nguyễn Bình), Nguyễn Hữu Thọ… Như thế, ý nghĩa thứ nhì của việc đoàn kết với Hồ Chí Minh có nghĩa là quy thuận họ Hồ, theo đuôi đảng Cộng Sản và làm bù nhìn trong những thời điểm cần thiết cho họ Hồ hay nói cách khác là chỉ được họ Hồ liên minh giai đoạn. Thử kiểm điểm danh sách những lãnh tụ cộng sản từ trước đến nay, chỉ những người gia nhập đảng Cộng Sản ngay từ khi bước vào hoạt động chính trị, thuộc thành phần trung kiên mới nắm giữ thực quyền. Những người đã theo các đảng khác rồi sau đó gia nhập đảng Cộng Sản, hoặc những người ngoài đảng mà có công lao, chỉ giữ những chức vụ tượng trưng mà thôi, như Nguyễn Hữu Thọ, Nguyễn Thị Bình …

    * Đoàn kết là sự vâng phục tuyệt đối lãnh đạo đảng: Ngày 2-9-1969, Hồ Chí Minh qua đời tại Hà Nội. Trong di chúc, Hồ Chí Minh nhắn nhủ với các đảng viên đảng Cộng Sản: ‘…Các đồng chí từ trung ương đến các chi bộ phải giữ gìn sự đoàn kết nhất trí của đảng như giữ gìn con ngươi của mắt mình…’(39) Vậy sự ‘đoàn kết nhất trí’ trong nội bộ đảng là gì?

    Trong sinh hoạt đảng Cộng Sản Việt Nam, khi các cấp lãnh đạo đưa ra những vấn đề thảo luận, nếu một đảng viên trình bày những ý kiến cấp tiến mới mẻ, thì được lãnh đạo gọi là ‘thành phần xét lại’. Ngược lại, có những đảng viên không muốn thực hiện các cuộc cải đổi quan trọng, thì được đánh giá là ‘bảo thủ, trì trệ’. Nói một cách khác, bất cứ ai có ý kiến gì cũng đều bị chụp mũ là tả khuynh hoặc hữu khuynh, lệch lạc hoặc xét lại, trừ ý kiến của lãnh đạo đảng. Đảng viên chỉ còn một giải pháp duy nhất là gật đầu vâng lệnh thượng cấp.

    Như vậy, sự đoàn kết nhất trí trong nội bộ đảng Cộng Sản Việt Nam là sự tuyệt đối vâng phục và trung thành của đảng viên đối với lãnh đạo đảng. Nếu không vâng phục lãnh đạo đảng, kết quả nhẹ nhất là sự trù dập, kỷ luật, và nặng nhất là thanh trừng.

    Ở Việt Nam có một câu thành ngữ thời danh minh họa sự đoàn kết của Cộng Sản: ‘Đảng gọi thì dạ; đảng không gọi thì không dạ. Đảng gọi mà không dạ không được; đảng không gọi mà dạ cũng không được.’ Nói trắng ra, ý nghĩa thứ ba của sự đoàn kết theo quan điểm của đảng Cộng Sản có nghĩa là phải chịu sự lãnh đạo độc tài, độc đảng, và tuyệt đối vâng phục trung kiên với đảng Cộng Sản. Điều nầy đưa đến một kết quả tại hại là các đảng viên bị xơ cứng trí óc, sẽ không còn sáng kiến để làm việc.

    Điểm đặc biệt là Hồ Chí Minh và đảng Cộng Sản chấp nhận một người trước đây chống đối họ, nhưng khi đã theo họ thì phải vâng phục tuyệt đối. Ngược lại, Hồ Chí Minh và đảng Cộng Sản không bao giờ chấp nhận những người trước đây đã từng hoàn toàn phục tùng họ, mà sau đó lại có ý muốn cải cách theo chiều hướng nhân bản, dân chủ, tự do, dù vẫn tuân phục đảng và chủ nghĩa xã hội. Những người nầy cũng bị coi là kẻ thù và chắc chắn bị loại bỏ. Đó là trường hợp Hoàng Minh Chính, Nguyễn Thanh Giang, Trần Độ, Hà Sĩ Phu, Dương Thu Hương …

    Có lẽ cũng nên thêm một điểm nữa rất dễ thấy trong lịch sử, là đảng CSVN không bao giờ tôn trọng những hiệp ước quốc tế do họ ký kết. Hiệp ước là giải pháp thỏa thuận giữa các bên về một cuộc tranh chấp, cũng có nghĩa là một sự giải hòa giữa các bên, bước đầu để tiến dần dần đến sự đoàn kết thống nhất. Đối với đảng CSVN, ký kết hiệp ước chỉ là đánh lừa dư luận, tạm ngưng tranh chấp, nhắm dưỡng sức và củng cố nội bộ, để rồi tiếp tục bành trướng. Ví dụ rõ nét nhất là hiệp định Genève ngày 20-7-1954 và hiệp định Paris ngày 27-1- 1973. Đảng CSVN ký kết hai hiệp ước nầy với sự chứng kiến của các nước trên thế giới, mà họ còn trắng trợn vi phạm, xé bỏ hiệp ước, huống gì là sự cam kết giữa họ với những cá nhân hay những đoàn thể người Việt khác.

    Do đó, hòa giải, liên hiệp và đoàn kết với cộng sản trước sau cũng sẽ bị cộng sản kiếm cách khống chế và hoàn toàn mất tự do. Những ai muốn hòa hợp, liên hiệp, đoàn kết với cộng sản, nên nhớ câu nói bất hủ của Hồ Chí Minh với Daniel Guérin trong một lần gặp mặt ở Paris: ‘… Tất cả những ai không theo đường lối của tôi đều sẽ bị bẻ gãy…’(40)

    * Đoàn kết là vắt chanh bỏ vỏ: Lúc Việt Minh cộng sản phát động chiến tranh chống Pháp, nhiều người yêu nước đã đứng lên hưởng ứng công cuộc kháng chiến. Chẳng những nhiều thanh niên lên đường theo tiếng gọi của quê hương, mà những người ở lại hậu phương cũng cố gắng đem tài vật ủng hộ công cuộc đấu tranh chống Pháp. Việt Minh đã xưng tụng những người nầy là những nhà ‘hằng tâm hằng sản’(có lòng và có của). Một khi tạm đứng vững, và nhất là khi được Trung Cộng viện trợ ào ạt từ năm 1951 trở đi, cộng sản Việt Nam mở cuộc cải cách ruộng đất từ 1953, và quay mặt với những kẻ đã nuôi dưỡng mình từ khi còn trứng nước, coi họ như kẻ thù, tố cáo những nông dân ‘ hằng tâm hằng sản’ là địa chủ, đánh đập, hành hạ và giết họ mà không cho chôn xác. Một tác giả đã từng sống gần Hồ Chí Minh, kể lại rằng bà Nguyễn Thị Năm ở huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên có nhà là nơi căn cứ giao liên, đã nuôi nhiều cán bộ cao cấp qua lại, từ Hồ Chí Minh, đến Trường Chinh, Phạm Văn Đồng, Nguyễn Duy Trinh, Hoàng Quốc Việt (Hạ Bá Cang); thế mà bà là một trong những người đầu tiên bị đấu tố trong cải cách ruộng đất, và đặc biệt đã kêu cứu đến tận tai Hồ Chí Minh mà ông lờ đi, để cho người ta giết bà.(41) Như vậy, với cộng sản, đoàn kết có nghĩa là lợi dụng một chiều theo giai đoạn, xong việc rồi ‘vắt chanh bỏ vỏ’. Việc ‘vắt chanh bỏ vỏ’ được thấy rõ nhất trong việc Hồ Chí Minh đối xử với bà Nông Thị Xuân. Hồ Chí Minh sống với bà Xuân như vợ chồng, và có với bà nầy một đứa con trai. Khi đã chán bà Xuân, ông Hồ để cho viên bộ trưởng công an là Trần Quốc Hoàn tự do hiếp dâm bà Xuân, rồi giết vứt xác bà Xuân ngoài đường để ngụy tạo một tai nạn.(42) Đối xử với người đã từng sống với mình và có với mình một đứa con, mà còn tàn bạo như vậy, thử hỏi Hồ Chí Minh còn có thể nói là chuyện tình nghĩa đoàn kết với ai được? Từ vụ cải cách ruộng đất năm 1953 đến vụ án ‘chống đảng’ do Lê Duẩn và Lê Đức Thọ khởi xướng ở Bắc Việt khoảng giữa thập niên 1960, vì muốn bảo vệ địa vị của riêng mình, Hồ Chí Minh đã im tiếng không can thiệp, để mặc cho các đồng chí thân thiết của ông ta bị thanh trừng, tù đày, hay tàn sát.(43) Chẳng những Hồ Chí Minh, mà Võ Nguyên Giáp cũng thế. Những tướng lãnh và sĩ quan thân cận của viên tướng nầy lần lượt bị thanh trừng mà ông ta không dám lên tiếng để bảo vệ sự thật. Như vậy, chẳng những trên phương diện chính trị đảng phái, mà cả trên phương diện cá nhân, đoàn kết với những người cộng sản chỉ có nghĩa là để cho họ lợi dụng xong rồi bị loại bỏ.

    5.- HUYỀN THOẠI GIẢI PHÓNG DÂN TỘC

    Trong Tự phán hay Phan Bội Châu niên biểu, Phan Bội Châu cho biết rằng năm 1920 (canh thân), ông gặp hai nhân vật Liên Xô tại Bắc Kinh là Grigorij Voitinski và một viên tham tán tòa đại sứ Liên Xô tại Bắc Kinh. Khi Phan Bội Châu ngỏ ý muốn nhờ Liên Xô giúp đỡ đưa du học sinh Việt Nam sang Liên Xô du học, viên tham tán nầy chỉ vẽ cặn kẽ, và hứa rằng Liên Xô sẽ giúp đỡ tận tình với điều kiện là phải chấp nhận ‘…tín ngưỡng chủ nghĩa cộng sản, học thành rồi về nước tất phải gánh lấy những việc tuyên truyền chủ nghĩa Lao Nông … ra sức làm những sự nghiệp cách mạng.’ Viên tham tán nầy yêu cầu Phan Bội Châu dùng tiếng Anh viết sách kể hết chân tướng người Pháp. Có thể những đòi hỏi của người Liên Xô về ‘tín ngưỡng chủ nghĩa cộng sản’ làm Phan Bội Châu e ngại, nên ông tránh mặt, không gặp lại người Liên Xô. Phan Bội Châu giải thích rằng ông không viết được tiếng Anh, nên ông ‘không lấy gì trả lại thịnh ý ấy’.(44) Đây là một lối nói xã giao, chứ thật ông Phan có thể vượt qua vấn đề ngôn ngữ bằng cách nhờ những người khác giúp làm thông ngôn, bằng chứng là Phan Bội Châu không biết tiếng Nhật, nhưng cũng đã nhờ Lương Khải Siêu giới thiệu tiếp xúc với hai chính trị gia Nhật Bản là bá tước Đại Ôi Trọng Tín (Okuma Shigenobu) và tử tước Khuyển Dưỡng Nghị (Inukai Ki). Ngoài ra, giả dụ trong trường hợp Phan Bội Châu thật lòng muốn tiếp xúc, chắc chắn toà đại sứ Liên Xô tại Bắc Kinh có những thông ngôn Hoa ngữ, có thể viết bút đàm với Phan Bội Châu.

    Ở đây cần chú ý một điểm là tại Nga, cuộc cách mạng cộng sản diễn ra vào ngày 7-11-1917.(45) Đảng Cộng Sản Liên Xô phải tốn một thời gian từ 1917 đến 1922 để tiêu diệt nhóm Bạch Nga bảo hoàng còn lại ở trong nước, ổn định tình hình nội bộ, nắm quyền thật vững chắc, mới bắt đầu bành trướng thế lực ra nước ngoài vào đầu đầu thập niên 20. Khi đó, Liên Xô phải đối đầu với các cường quốc Âu Mỹ đã tiến chiemn các thuộc địa từ thế kỷ 19. Do đó, nhu cầu vận động các nước thuộc địa nổi lên tranh đấu chống lại các cường quốc thực dân đang là kẻ thù của Liên Xô, nằm trong sách lược nầy. Chính vì vậy mà Nguyễn Ái Quốc được cộng sản quốc tế sắp đặt cho qua Liên Xô để thụ huấn trở thành một thứ ‘chiến sĩ tiên phong’ trong việc truyền bá chủ nghĩa cộng sản ở Á Châu, và cũng chính từ đó mà Nguyễn Ái Quốc đã hình thành quyển Bản án chế độ thực dân Pháp năm 1925.

    Nếu viên đại diện Liên Xô tại Bắc Kinh yêu cầu Phan Bội Châu phải chấp nhận ‘…tín ngưỡng chủ nghĩa cộng sản, học thành rồi về nước tất phải gánh lấy những việc tuyên truyền chủ nghĩa Lao Nông …’ thì những người Việt khác theo Đệ tam Quốc tế Cộng sản, như Hồ Chí Minh, chắc chắn đều phải làm thế.

    Điều đó có nghĩa là khi đến Liên Xô đầu năm 1924, Hồ Chí Minh, lúc đó lấy tên là Nguyễn Ái Quốc, chắc chắn phải tuyên thệ thực hiện những điều nầy mới được Liên Xô chấp nhận, và cũng có nghĩa là ngay từ đầu, Hồ Chí Minh chịu làm tay sai cho Liên Xô, biến nước Việt Nam thành một nước cộng sản chư hầu của Liên Xô, và thực hiện nhiệm vụ quốc tế cho Liên Xô, nghĩa là kiếm cách đánh phá những địch thủ của Liên Xôââ. Hồ Chí Minh và những người cộng sản che giấu rất kỹ điều nầy. Phải chăng do tâm lý ẩn ức vì cả cha lẫn con đều bị thất bại trên đường quan lại của Pháp, không xin được vào học trường Thuộc Địa Paris để ra làm quan cho Pháp, mà Hồ Chí Minh cam tâm làm như thế, để đạt cho được tham vọng quyền lực mà ông hằng khao khát?

    Sau khi làm việc trong phái bộ Borodin tại Trung Hoa, Nguyễn Ái Quốc không được Đệ tam quốc tế tín nhiệm nên bị giữ lại ở Liên Xô một thời gian, từ 1933 đến 1938. Trước khi thế chiến thứ nhì bùng nổ (1939), tại viễn đông, Nhật Bản hoành hành mạnh, tranh giành những quyền lợi của Liên Xô ở Mãn Châu, và Triều Tiên, nhất là từ khi giới quân phiệt kiểm soát được chính quyền ở Nhật Bản, và thi hành chính sách bành trướng đế quốc.(46) Đệ tam quốc tế cộng sản liền sai Nguyễn Ái Quốc trở qua Trung Hoa vào đầu năm 1939 nhắm thực hiện những điệp vụ chống Nhật ở Á Châu. Để thấy rõ bản chất tay sai cộng sản quốc tế của Hồ Chí Minh và đảng Cộng Sản Việt Nam, xin đọc đoạn sau đây của bộ sử do chính các tác giả cộng sản Hà Nội viết:

    ‘Sau một thời gian nắm tình hình cách mạng Việt Nam và Đông Dương, ngày 10-5-1941, thay mặt Quốc tế Cộng sản, Hồ Chủ tịch triệu tập và chủ trì Hội nghị Trung ương Đảng Cộng Sản Đông Dương lần thứ 8 ở Pắc Bó. Các đồng chí Trường Chinh, Hoàng Văn Thụ, Hoàng Quốc Việt, Phùng Chí Kiên, cùng một số đại biểu của Xứ uỷ Bắc Kỳ, Trung Kỳ, và một số đại biểu hoạt động ở nước ngoài đã tham gia Hội nghị.

    ‘Hội nghị phân tích sâu sắc tình hình thế giới và trong nước, vạch rõ triển vọng của cuộc chiến tranh thế giới và khẳng định: Nếu sau Chiến tranh thế giới lần thứ I, xuất hiện nước xã hội chủ nghĩa đầu tiên là Liên Xô, thì cuộc chiến tranh đế quốc lần nầy sẽ làm cho cách mạng nhiều nước thành công, sẽ có thêm nhiều nước xã hội chủ nghĩa ra đời. Đảng nhấn mạnh phải xem cách mạng Việt Nam như một bộ phận của cách mạng vô sản thế giới, lúc nầy là một bộ phận của phong trào dân chủ chống phát xít, đặc biệt là phải tích cực ủng hộ Liên Xô và cách mạng Trung Quốc.’(47)

    Gần đây, trong sách Viết cho mẹ & quốc hội, một đảng viên cao cấp của cộng sản, ông Nguyễn Văn Trấn tiết lộ rằng tên đảng Lao Động do chính Stalin đặt,(4? và cũng chính Stalin đã thúc đẩy Hồ Chí Minh thực hiện cuộc cải cách ruộng đất ngay từ cuộc gặp gỡ năm 1950.(49) Sau đó Mao Trạch Đông áp lực, huấn luyện cán bộ, và gởi chuyên viên sang tổ chức, theo dõi, thi hành cuộc cải cách ruộng đất.(50) Cuộc cải cách nầy phát khởi năm 1953 đã sát hại 172.008 nông dân ở miền Bắc.

    Vì đã mật kết đi theo con đường cộng sản Liên Xô, Hồ Chí Minh dùng chiêu bài giải phóng đất nước và độc lập dân tộc để dẫn cuộc chiến tranh chống Pháp thành cuộc chiến tranh giữa hai thế lực tư bản và cộng sản, lồng trong khung cảnh nội chiến giữa hai khuynh hướng quốc gia và cộng sản. Trong cuộc xâm lăng miền Nam từ năm 1960, Lê Duẩn, tổng bí thư đảng Cộng Sản Việt Nam, đã từng nói: ‘Ta đánh Mỹ là đánh cho Liên Xô, đánh cho Trung Quốc…’(51)

    Như vậy, trước sau như một, Hồ Chí Minh và đảng CSVN luôn luôn kiên định vai trò ‘lính đánh thuê’ cho Liên Xô và Trung Quốc bằng xương máu của dân tộc Việt Nam. Chính Hồ Chí Minh và đảng CSVN đã dồn các thành phần quốc gia về phía phải kiếm cách liên kết với Pháp, và sau nầy với Hoa Kỳ, để chận đứng nạn cộng sản trên đất nước chúng ta, và để khỏi bị cộng sản Việt Nam tiêu diệt.

    Với sự hỗ trợ tích cực của Liên Xô và Trung cộng, cuộc bành trướng của cộng sản tại Việt Nam có thể chia thành ba giai đoạn: (1)thiết lập các căn cứ tại Việt bắc từ đầu thập niên 40 và cướp chính quyền năm 1945; (2) dùng chiêu bài giải phóng và độc lập để kêu gọi dân chúng chống Pháp, và chiếm lĩnh một nửa đất nước, từ vĩ tuyến 17 trở ra bằng hiệp định Genève năm 1954; (3) Hồ Chí Minh và đảng CSVN tiếp tục mở cuộc chiến tranh xâm lăng miền Nam từ năm 1960 cho đến năm 1975.

    Khi chưa chiếm được miền Bắc, Hồ Chí Minh và đảng Cộng Sản Việt Nam đã tổ chức cuộc cải cách ruộng đất. Cuộc cải cách nầy được tiếp tục năm 1954 cho đến năm 1956, gây kinh hoàng cho nhân dân miền Bắc, giết chết hàng trăm ngàn người, và nhất làm làm tê liệt mọi sức đối kháng của người dân, làm hỏng hết các giềng mối luân lý đạo đức gia đình, con cái tố cha mẹ, vợ chồng tố nhau, anh em tố nhau, bà con không dám nhìn mặt nhau. Một sĩ quan cấp tiểu đoàn trưởng quân đội cộng sản Hà Nội tuyên bố: ‘Ông ấy [chỉ Hồ Chí Minh] biến những con người lương thiện thành những con quỷ. Ông ấy là quỷ vương.’(52)

    Về phương diện văn hóa, Hồ Chí Minh và đảng Cộng Sản Cộng Sản dẹp bỏ hết các tôn giáo, tịch thu hết sách vở cũ, chỉ cho nhà trường dạy về chủ nghĩa cộng sản, lịch sử cộng sản, những nhà văn nhà thơ cộng sản. Đề thi văn chương ở đại học và trung học chỉ quanh quẩn những bài thơ của Hồ Chí Minh và Tố Hữu. Từ năm 1956 đến năm 1958, các văn nghệ sĩ không ca tụng chế độ cộng sản bị đem ra đấu tố và tù đày trong vụ án gọi là Nhân văn giai phẩm. Sau đó, các văn nghệ sĩ muốn sống còn phải im hơi lặng tiếng, viết theo chỉ thị của đảng. Cuộc đánh phá các văn nghệ sĩ nầy còn nhắm mục đích lâu dài là chận trước các tiếng nói đối lập để họ khỏi cản trở công cuộc xâm lăng miền Nam. Văn nghệ sĩ vốn là những người nhạy cảm trước nỗi đau khổ của đồng bào, nếu để họ tự do ngôn luận, thì khó có thể thi hành kế hoặch xâm lăng mà không bị họ phát hiện hoặc phản đối.

    Về phương diện kinh tế, Hồ Chí Minh và đảng Cộng Sản gọi là giải phóng, nhưng đã loại bỏ nền kinh tế tự do, để trói buộc dân Việt vào chính sách kinh tế chỉ huy theo kiểu Liên Xô và Trung Cộng, tịch thu hết đất đai, dồn nông dân vào các hợp tác xã nhà nước, quốc hữu hóa các công ty xí nghiệp của tư nhân. Vì người dân không được quyền sáng kiến làm ăn sinh sống, không được tự do kinh doanh, nên nền kinh tế Bắc Việt hoàn toàn suy sụp và kiệt quệ dưới chế độ cộng sản của Hồ Chí Minh. Hồ Chí Minh phải nhờ đến viện trợ của Liên Xô và Trung Cộng. Người ta kể rằng một cây kim may cũng phải nhờ Trung Cộng viện trợ. Càng nhờ vả thì càng mất tự do, và phải trả bằng nguyên vật liệu như than đá, quặng sắt … mà cho đến nay vẫn còn chưa trả hết.

    Hồ Chí Minh và đảng Cộng Sản tiếp tục áp dụng chiêu bài giải phóng dân tộc với miền Nam sau năm 1954. Năm 1972, người Hoa Kỳ bắt tay được với Trung Cộng, thay đổi chiến lược chính trị ở Á Châu, tìm cách rút quân ra khỏi Việt Nam. Hiệp định Paris năm 1973 đã đưa Việt Nam Cộng Hòa vào tư thế lúng túng. Cộng sản Bắc Việt, với sự hậu thuẫn hùng hậu của Liên Xô và Trung Cộng, tiến chiếm miền Nam năm 1975.

    Những chính sách áp dụng ở miền Bắc năm 1954 lại được đem ra áp dụng ở miền Nam. Về tôn giáo, văn hóa, chính trị, cộng sản buộc miền Nam đi vào quỹ đạo cộng sản. Về kinh tế, lần nầy cộng sản trúng vố bở vì từ năm 1954 đến năm 1975, miền Nam càng ngày càng phồn thịnh, dân chúng giàu có. Cộng Sản lấy được 16 tấn vàng của kho bạc miền Nam, tịch biên tất cả những nhà tư sản mà Hà Nội gọi là ‘mại bản’,(53) đổi tiền nhiều lần để kiểm soát tình hình lưu thông tiền tệ, quốc doanh tất cả công ty xí nghiệp… Miền Nam là vựa thóc của đất nước, nhưng dưới chính sách kinh tế chỉ huy của cộng sản, dân chúng miền Nam đói rách nghèo khổ cùng cực hơn bao giờ cả.

    Trong bản tuyên bố ngày 2-9-1945 mà cộng sản gọi là bản tuyên ngôn độc lập, Hồ Chí Minh viết: ‘Chúng [chỉ thực dân Pháp] lập ra nhà tù nhiều hơn trường học. Chúng thẳng tay chém giết những người yêu nước thương nòi của ta. Chúng tắm các cuộc khởi nghĩa của ta trong bể máu. Chúng ràng buộc dư luận, thi hành chính sách ngu dân…Về kinh tế, chúng bóc lột dân ta đến xương tủy, khiến do dân ta nghèo nàn, thiếu thốn, nước ta xơ xác tiêu điều. Chúng cướp không ruộng đất, hầm mỏ nguyên liệu. Chúng giữ độc quyền in giấy bạc, xuất cảng và nhập cảng. Chúng đặt ra hàng trăm thứ thuế vô lý, làm cho dân ta, nhất là dân cày và dân buôn trở nên bần cùng. Chúng không cho các nhà tư sản ngóc đầu lên. Chúng bóc lột công nhân ta một cách vô cùng tàn nhẫn…’(54)

    Nay chúng ta ứng dụng những lời do chính tay Hồ Chí Minh viết, và từ miệng Hồ Chí Minh đọc, vào chính sách của chế độ cộng sản ở Việt Nam, như nhà tù nhiều hơn trường học, như quốc hữu hóa đất đai, công ty xí nghiệp, đánh tư sản … thì nghiệm ra rằng ‘chúng’ là cộng sản chứ chẳng ai khác.(55)

    Do những thay đổi ở Trung Cộng khi Đặng Tiểu Bình trở lại cầm quyền năm 1978 sau khi Mao Trạch Đông từ trần (1976), do chủ trương Glasnost (Cởi mở) và Perestroika (Tái cấu trúc) của Gorbachev khi ông lên làm tổng bí thư đảng Cộng Sản Liên Xô năm 1985, do những biến động ở Đông Âu năm 1989, sự sụp đổ của đảng Cộng Sản Liên Xô năm 1991, và nhất là do cuộc cách mạng thông tin liên lạc bằng hệ thống vi tính và mạng lưới viễn thông quốc tế, đảng Cộng Sản Việt Nam không còn bưng bít và gò ép được dân chúng nữa, nên bắt buộc đảng Cộng Sản phải thay đổi về kinh tế, nhưng vẫn độc tôn về chính trị. Khẩu hiệu ‘Chống Mỹ cứu nước, giải phóng dân tộc’ trước đây trong thời chiến tranh, nay trở thành khôi hài với dân chúng và mỉa mai đối với những người đã chết trong cuộc chiến vì khẩu hiệu nầy, khi nhà cầm quyền Hà Nội tha thiết mong mỏi Hoa Kỳ trở lại Việt Nam vào giữa thập niên 90.

    Theo nghĩa tầm nguyên, giải phóng là cởi mở ra cho tự do, nghĩa là đưa một cái gì từ tình trạng bị giam hãm kềm kẹp đến tình trạng được thoát ly và tự do, tức từ chỗ xấu đến tốt hơn. Đàng nầy, với đảng CSVN, giải phóng dân tộc, giải phóng đất nước có nghĩa là biến Việt Nam thành chư hầu của Liên Xô, Trung Quốc, nô lệ hóa dân chúng Việt Nam theo tín điều cộng sản, đặt nhân dân Việt Nam dưới chế độ độc tài, độc đảng, bóc lột, phá hoại, đầy ải và bần cùng hóa nhân dân một cách có hệ thống, có bài bản của Hồ Chí Minh và đảng Cộng Sản Việt Nam.

    Trong lịch sử Việt Nam, khác với những cuộc chiến tranh giải phóng trước đây, Hồ Chí Minh và đảng Cộng Sản là trường hợp đầu tiên và duy nhất đã lợi dụng tinh thần dân tộc, lòng yêu nước, khát vọng độc lập tự do của nhân dân, đưa ra chiêu bài giải phóng đất nước, kêu gọi dân chúng theo cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, ‘đế quốc’ Mỹ, để áp đặt một chế độ độc tài bóc lột khắc nghiệt hơn cả ngoại bang thực dân. Lợi dụng khát vọng độc lập tự do của dân tộc Việt Nam để tước đoạt tự do của người Việt Nam, sử dụng xương máu của giống nòi để phục vụ quyền lợi đảng phái riêng tư và quyền lợi của quốc tế cộng sản, là một tội lỗi lịch sử ngàn năm bia miệng.

    6.- HUYỀN THOẠI ‘TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH’

    Sau năm 1975, Việt Nam suy sụp dần dần với chính sách kinh tế chỉ huy và sự cai trị hà khắc của chế độ cộng sản. Cao điểm của sự suy sụp là việc ông Đỗ Mười, uỷ viên bộ Chính trị đảng Cộng Sản Việt Nam, chỉ huy cuộc cải tạo công thương nghiệp miền Nam, thực chất là đánh ‘tư sản’ năm 1978, ngăn sông cách chợ, cấm cản tiểu thương, đày ải dân thành thị đến các vùng hoang địa, cưỡng bách lao động trong những công tác thủy lợi thiếu nghiên cứu, tung quân xâm lăng Campuchia, chỉ để tránh sức mạnh của người dân trong nước. Dân chúng đói khổ ta thán, tinh thần cán bộ đảng viên sa sút theo.

    Để kiếm cách tuyên truyền cổ võ dân chúng hưng phấn trở lại, nhà nước cộng sản Hà Nội đánh bóng hình tượng Hồ Chí Minh, đã chết từ năm 1969 trước khi miền Nam bị cưỡng chiếm. Họ tổ chức cuộc ‘rước đuốc bác Hồ’ xuyên Việt, từ lăng mộ Hồ Chí Minh ở Hà Nội lên các tỉnh miền núi Bắc Việt, và quan trọng nhất là từ Hà Nội tiến xuống các tỉnh phía Nam vào khoảng tháng 10-1980, giống như kiểu rước đuốc của nhà độc tài Hitler năm 1933 ở Nuremberg (Đức).

    Ánh đuốc bập bùng lung linh gây không khí huyền hoặc theo nghi lễ cổ xưa cũng không làm tan đi băng giá lạnh lùng trong tâm hồn dân chúng Việt Nam đã triền miên khổ đau vì nạn độc tài cộng sản. Càng về nam, dân chúng càng ít hưởng ứng, nên sau chặng đường từ Tuy Hòa vào Nha Trang thì cuộc rước đuốc tan rã. Dân chúng cần cái ăn cái mặc, chứ không phải là những lời nói suông. Vì không xuống quá Nha Trang, do đó ở Sài Gòn và trong nam, dân chúng ít nghe biết chuyện rước đuốc nầy.

    Năm 1989, Đông Âu bắt đầu biến động và thoát khỏi đế quốc Liên Xô. Sau đó đến lượt Liên Xô, chiếc nôi của Cộng Sản Quốc Tế, sụp đổ năm 1991. Khẩu hiệu chiến lược hàng đầu mà đảng Cộng Sản Việt Nam thường sử dụng: ‘Chủ nghĩa Mác – Lê bách chiến bách thắng’ không còn hiệu nghiệm. Đảng CSVN lâm vào tình trạng lúng túng, không biết làm sao tiếp tục tuyên truyền với đảng viên và dân chúng, vì nói rằng chủ nghĩa Mác-Lê bách chiến bách thắng, nay sao lại sụp đổ tan tành chóng vánh ngay tại quê hương của Lenin? Đảng CSVN vội quay qua cầu cứu

  14. lu ha la cai thang cho nao ma giam chui bac ho anh nhat minh noi qua chinh sac cai bon phan dong nay chi dung tu ma phanh thay no la duoc thoi may thang vo hoc bo me may sinh ra ko day duoc bon may a bac ho nhu the nao thi toan dan viet nam biet nha ko cho du may con cho bon may co can thi kung the thoi haha lu cho chung may them cut nen can lung tung chu j lan sau tao con nghe duoc mot loi noi xau nao ve bac ho thi tao cat chim lu chung may nge chua

  15. lũ phản động các người chỉ biết chọc ngoáy những cái đầu thiểu năng và lười suy nghĩ thôi. Chẵng có thanh niên nào thèm quan tâm những luận điệu giả dối chớp nhòa thế đâu.tôi tin Bac hồ đã làm tất cả những j tốt đẹp nhất mà nhiều người yêu nước khác ko làm đc, chẵng có j thay đổi dc điều đó

  16. Mẹ Ơi!
    Kính tặng Linh Mục Nguyễn Hữu Lễon

    Trải bao mưa dập gió vùi
    Bọt bèo trôi nổi đắng luân hồi đắng cay
    Thuyền đời lặng lẽ buồn trôi
    Qua cơn giận dữ thương người trần gian
    Chí Minh đâu phải thánh thần
    Hắt hiu như đám lưả tàn mà thôi
    Thời gian tẻ lạnh trôi đi
    Mẹ ơi! Nhang khói tàn rơi nấm mồ
    Cây rung hạt lệ xót xa
    Chất chồng oan trái tiêu điều xóm thôn
    Gây ra tủi nhục căm hờn
    Ai mang chủ thuyết bần hàn quê hương
    Nhà tranh lam khói bi thương
    Vườn không xơ xác họ hàng lầm than
    Mọi nhà khoai sắn đói ăn
    Sông khô đồng lê thân phong trần
    Trách người ăn dối nói gian
    Năm thê bảy thiếp thế nhân mịt mù
    Độc thân giản dị thế ư
    Nghiã nhân đạo đức mập mờ trắng đen
    Văn thơ mượn tiếng hiền nhân
    Linh hồn ngạ quỷ chay đàn chúng sinh
    Yêu nước sầu thảm trời xanh
    Thương dân mà tạo chiến tranh giết mòn
    Theo chân ngoại quốc bon chen
    Văn hoá tư tưởng rập khuân cuả người
    Ngẫm xem thế thế kỷ qua rồi
    Tóc xanh nay đã bạc rồi mẹ ơi !
    Nhạt nhoà ngấn lệ bờ mi
    Xót xa hồn khổ biển khơi đoạ đày….

    1.5.2010 Lu Hà

    • Sông khô đồng cạn lê thân phong trần

    • Đúng là trang web của bọn phản động!!! Thử hỏi không có Bác Hồ thì làm sao nhân dân có quyền độc lập, tự do như bây giờ. Thú thật là nếu còn chế độ ngụy quyền Saigon thì Nam VietNam sẽ phát triển hơn bây giờ nhưng hãy nhìn vào đất nước VN hiện giờ xem sao… Vẫn phát triển từng ngày, đời sống nhân dân ngày càng nâng cao. Sống làm chi với một đất nước giàu có mà lại bị lệ thuộc vào một tên TBCN. Thanh niên VN không chấp nhận điều này, như thế không phù hợo với truyền thống đạo lý của dân tộc – Dân tộc VN từ xa xưa đã có truyền thống kiên cường, bất khuất chống lại bọn xâm lược ngoại bang và bọn bán nước(trước mắt là bọn viết bài báo và chủ đề này). Những luận điệu xuyên tạc chế độ CNXH ở VN luôn bị coi là những thứ rác rưởi, không đáng quan tâm đối với những người dân VN yêu nước chân chính và thanh niên VN luôn hứa sẽ đi theo con đường của vị cha già kính yêu của dân tộc đã vạch ra, quyết tâm thực hiện di chúc của Người trong hôm nay và tương lai. Đảng CSVN quang vinh, muôn năm!!!

  17. THANG HO CHO MINH LOP BA TRUONG MA BON CSVN CUA CHUNG MAY GOI LA BAC VA CHA GIA DAN TOC LOP BA TRUONG HEN CHI DAO TAO MOT KU NGOC CUA CHUNG MAY DEM DAT NUOC VN NGHEO DOI TAN DEN HOM NAY THE GIOI DI VAO VU TRU CON BON CHUNG DANG XOA DOI GIAM NGHEO MA KHONG BIET NHUC

    • Mày đang chửi ông chửi cha mày đó hả!!! Hay mày không có nguồn gốc, là bọn tạp chủng, bọn lai tạp. VN bọn tao còn nghèo nhưng đâu phải tất cả các nuớc trên TG đều giàu hết đâu. Bọn phản động bên Mỹ đang sống lây lất với sự viện trợ của những tên bại trận. Giả sử 1 ngày nó đưa dân nó lên vũ trụ thì bọn bán nước tụi bây có được nó đưa đi theo không hay là bị bọn nó “đá đít” trở lại mặt đất và tiếp tục sống cảnh ăn bám như thế.

  18. PHAN HOI BOI THANG CHO DE NHAT MINH GI DO MAY DEM CAI XAC THOI CUA THANG HO CHO MINH VE DE TREN BAN THO ONG BA TO TIEN CUA MAY MA THO CAI XAC THUI THA DAY TU KHI VA DAI DAM TAC CUA THANG HO QUANG VAO SO THU SUC VAT CON CHE DAY

  19. bon cho de csvn la tay sai cua cs quoc te khat mau cuop cua giet nguoi khung mien nam nen nguoi my cho bon cho de bon may mot bai hoc con den bay gio may dua thang ho cho minh ra thi chuyen quatam thuong khong ai chu y den dau thang dai gian acdai dam tac thoi co gi hay ho

  20. the nao moi dung la su that chu

    Đâu là sự thật trong bộ phim “Sự thật về Hồ Chí Minh”?

    Nhật Minh

    Mới đây, Phong trào Quốc dân đòi trả tên Sài Gòn lại có chủ trương thực hiện bộ phim “Sự thật về Hồ Chí Minh”.

    Các bạn tôi xem xong, mọi người đều có chung nhận xét, đó vẫn là những luận điệu cũ rích, tài liệu bị bóp méo phục vụ cho luận điệu xuyên tạc của “các nhà nghiên cứu”. Họ đề nghị tôi xem và cùng bình luận ý kiến với anh em. Tôi lắc đầu, vì không muốn mất thì giờ với cái thứ vô bổ ấy. Với lại tôi không có phận sự gì lên tiếng về bộ phim này mà đó là của những người có trách nhiệm trong các cơ quan hữu quan.
    Nhưng anh em nhất định không đồng ý với tôi, gặp bãi phân ngoài đường, người đi đường trông thấy không phải chỉ bịt mũi chạy nhanh qua mà cần phải thò tay vào bốc nó vứt đi cho phong quang sạch sẽ đường đi lối lại. Đừng để những điều bậy bạ đó, nó như những bộ phim Sex đồi trụy làm hại các thế hệ thanh niên mới lớn, hay tò mò. Mỗi công dân hãy tự mình lên tiếng khi gặp điều trái tai gai mắt chứ đâu cần phải đợi đến ai. Vậy thì tôi cứ mạo muội mà có mấy thu nhận sơ sài sau khi rất kiên nhẫn bỏ thời gian để ngồi xem cho hết cái tấn tuồng mà các con rối thi nhau bày trò trong bộ phim nói trên.

    Xét một cách toàn diện nhất thì toàn bộ bộ phim “Sự thật về Hồ Chí Minh” do Phong trào Quốc dân đòi trả tên Sài Gòn chủ trương thực hiện là một sự bịa đặt, vu khống trắng trợn và cố tình bôi nhọ Chủ tịch Hồ Chí Minh bằng một thứ sảo thuật chính trị, “lập lờ đánh lận con đen” trong khi đưa ra các tư liệu. Có câu, nửa sự thật không phải là sự thật.

    Dưới đây, tôi sẽ chỉ ra những cái trò “ma cô” đó để các bạn thấy trong những “phát kiến lịch sử vĩ đại” của họ. Thưa các “nhà nghiên cứu” người Việt Nam ở Hải ngoại! “Các ngài” chắc hẳn sẽ “vui lòng” khi được tiếp nhận thông tin nhiều chiều phản hồi, trong đó có tôi một khán giả “hâm mộ” bộ phim này!

    Đầu tiên, tôi muốn gửi lời tới nhà điều hành: Trần Quốc Bảo và nhà ráp nối của bộ phim: Chu Luynh. Hai vị (cũng như các vị cố vấn cố véo khác), các ông chưa sạch nước cản trong khi làm khoa học lịch sử. Trình độ của các ông trong khâu xử lý tư liệu chỉ đáng xếp vào hạng một anh học trò loại tồi. Khi phỏng vấn ông Minh Võ – nhà biên khảo – Hoa Kỳ dẫn tên ba người cán bộ là Trường Chinh, Phạm Văn Đồng, Võ Nguyên Giáp thì ảnh chân dung Võ Nguyên Giáp đó là tướng Văn Tiến Dũng đấy nhé. Không chỉ một lần, mà đoạn ông Vũ Thư Hiên nói về Cải cách Ruộng đất, dẫn chùm ảnh 4 người: Trường Chinh, Phạm Văn Đồng, Võ Nguyên Giáp, Lê Thanh Nghị, các ông vẫn tiếp tục đưa ảnh tướng Văn Tiến Dũng thay vào tên Võ Nguyên Giáp (!).

    Tôi có thể dẫn nhanh những chú thích ngớ ngẩn tiếp theo của các ông như miệng các ông thuyết minh Chính phủ Liên hiệp năm 1946, nhưng trên ảnh là năm 1945; Cải cách Ruộng đất ở Việt Nam được thực hiện bắt đầu vào năm 1953 thì các ông gán lên màn hình đó là năm 1951 (?), phỏng vấn nhà văn Trần Mạnh Hảo thì hình ảnh lại là khuôn mặt nhà thơ Hoàng Trần Cương đã bị biến dạng… Một người – một cơ quan làm việc nghiêm túc và có trình độ thực sự không bao giờ lại có những sai sót trong những chi tiết lịch sử phổ thông nhất như vậy, các ông chớ bảo tôi “bới lông tìm vết”. Với những sự kiện đơn giản nhất các ông còn không nhận chân được nói gì tới chuyện giải mã những bí ẩn xung quanh cuộc đời hoạt động của Hồ Chí Minh mà đòi tìm ra “sự thật”!

    Đoạn trên tôi có dẫn câu: Nửa sự thật không phải là sự thật. Trong đoạn phim về Nhật ký trong tù, các ông chỉ đưa ra bút tích trang đầu tập thơ ghi ngày 29/8/1932 – 10/9/1933 mà không dám đưa trang cuối cùng của tập, cũng bút tích ghi ngày 29/8/1942 – 10/9/1943. Các ông có hiểu những dòng này có ý nghĩa gì không? Hay chỉ là sự bóp méo của các ông?

    Đặng Thai Mai trong bài “Đọc lại Ngục trung nhật ký” (1970) đã viết: “Cuốn sổ tay của Bác, hiện còn lưu trữ, có ghi trên bìa 2 con số: 1932 – 1933. Trong thời gian Viện Văn học hiệu đính bản dịch Ngục trung nhật ký (1959 – 1960), chúng tôi đã đề đạt lên Bác câu hỏi về điều này, qua Ban Tuyên giáo, và đã được trả lời: hai con số trên là sai; đúng ra là 1942 – 1943”. (Tư liệu này có thể tìm đọc trong sách “Trên đường học tập và nghiên cứu” của Đặng Thai Mai – nhà xuất bản Văn học năm 1971, hoặc mới đây được in lại trong Đặng Thai Mai toàn tập, tập II, nhà xuất bản Văn học năm 2006).

    Để biết được hành trình của tập Nhật ký trong tù, các ông vui lòng tìm cuốn sách của nhà văn Hoàng Quảng Uyên: “Nhật ký trong tù số phận và lịch sử” (khảo cứu – tái bản lần thứ 1, có sửa chữa) – nhà xuất bản Thanh niên 2007. Trong cuốn sách này, phần phụ lục có bài viết của cụ Trần Đắc Thọ: “Những điều ta chưa biết về “Ngục trung nhật ký” cũng như về quá trình dịch thơ “Ngục trung nhật ký” của Chủ tịch Hồ Chí Minh”.

    Cụ Trần Đắc Thọ đã trực tiếp hỏi chuyện cụ Hồ Đức Thành (năm đó 85 tuổi) nguyên Bí thư Tỉnh ủy Cao Bằng, nguyên Chủ nhiệm Biện sự xứ Việt Nam tại Trung Quốc, nguyên Đại biểu Quốc hội khóa I (1946 – 1960) là người sớm tiếp xúc với tập Nhật ký trong tù từ trước Cách mạng tháng Tám 1945: “Đọc hết tập Ngục trung nhật ký, cụ Thành có hỏi Bác Hồ vì sao ở bìa tập Nhật ký lại ghi: 29/8/1932 đến 10/9/1933. Bác đáp: Mình muốn đánh lạc hướng, ai hiểu thế nào thì hiểu”. (Hoàng Quảng Uyên – sđd, tr 208). Nay có vị nào thắc mắc, xin mời cứ tới 23C phố Tôn Đản – Hoàn Kiếm – Hà Nội để được cụ giải đáp.

    Ngoài ra tôi không muốn dẫn thêm những hình ảnh cố tình cắt xén, xuyên tạc khác khi xem bộ phim này.

    Ông Lê Hữu Mục lảm nhảm những điều về Nhật ký trong tù, đã làm tôi nhớ đến nhà nghiên cứu Phan Ngọc. Trong bài Câu chuyện tác giả Ngục trung nhật ký, giáo sư Phan Ngọc viết:

    “…Vào cuối tháng X-1992, Viện Văn học cho tôi xem bài viết của Lê Hữu Mục Hồ Chí Minh không phải là tác giả Ngục trung nhật ký. Mục đích của đời tôi là chỉ tìm phương pháp làm việc có lợi cho nhân dân nước tôi. Tôi không xét động cơ. Nhân bài này, tôi xin nêu lên những lỗi về hình thức (vice de forme) mà người cầm bút nào cũng phải đề phòng. Chỉ cần phạm một lỗi như thế là toàn bộ lập luận bị vứt bỏ. Ông Lê Hữu Mục trong bài viết của mình phạm đến tám lỗi về hình thức đủ cho pháp luật tư sản kết ông về tội vu cáo…”.

    Trong bài viết của mình, tôi không dẫn ra toàn bộ tám lỗi của ông Lê Hữu Mục (bạn đọc quan tâm đến vấn đề này có thể tìm thấy dễ dàng trong cuốn Suy nghĩ mới về Nhật ký trong tù – nhà xuất bản Giáo dục 1993, bài Câu chuyện tác giả Ngục trung nhật ký từ tr 619 đến tr 630). Với sự nghiêm túc của một nhà khoa học, với tinh thần tranh luận giữa hai vị giáo sư giảng dạy văn học, giáo sư Phan Ngọc vừa chỉ dẫn vừa khuyên răn ông Lê Hữu Mục:

    “…Ông không thể trách tôi thiếu nghiêm chỉnh. Tôi chỉ cần dẫn một người là ông thấy ngay mình phạm cái điều mà Ăngđơrê Git (André Gide) nói: Ignorance qui s’ignore invite à de grandes affirmations (Sự ngu dốt không tự biết mình đẩy người ta đến những sự liều lĩnh).

    …Tôi biết ông muốn phủ nhận Hồ Chí Minh là tác giả Ngục trung nhật ký. Nhưng cách làm của ông là sai lầm. Tôi xin bày cho ông một mẹo. Ông hãy tìm những bài chắc chắn là thơ chữ Hán của Hồ Chí Minh, thí dụ những bài làm ở Việt Bắc, thơ tặng các cụ Võ Liêm Sơn, Bùi Bằng Đoàn v.v… rồi chứng minh đó là thơ dở. Sau đó mới chứng minh Ngục trung nhật ký là của người khác, bởi vì nó rất hay, như ông đã thừa nhận. Làm thế “kín võ” lại thỏa mãn được cái tâm địa của ông. Chắc chắn ông biết mẹo này, nhưng dù có ba đầu sáu tay, ông cũng không dám làm. Bởi vì ông ngu dại gì chứng minh những bài thơ ấy là dở. Kết quả ông phạm lỗi thứ năm về hình thức: dựa trên cái võ đoán để chứng minh cái võ đoán.

    … Phật dạy: “Buông dao xuống có thể thành Phật”. Đó không phải lời nói suông. Thánh Phao-lồ đã từng nổi tiếng là người sát hại người Thiên chúa giáo. Nhưng ông đã buông dao để trở thành một trong những người có công nhất với Thiên chúa giáo. Tôi không dám dạy ai. Tôi lo dạy tôi còn chưa kịp dám đâu nói chuyện dạy đời. Quyển sách ông Lê Hữu Mục viết ra thực tế là hành động giơ dao. Tôi đang chờ đợi ông sẽ làm gì với con dao ấy? Nên buông dao thì hơn”.

    Sau bài viết này của giáo sư Phan Ngọc, ông Lê Hữu Mục như bị đánh đúng tử huyệt, một thời gian dài nhiều người tưởng ông đã chết. Nay ông thấy còn điều gì chưa tâm phục khẩu phục xin mời ông có ý kiến lại.

    Đây tôi muốn nhắc tới ông Vũ Ngự Chiêu, người được các nhà làm phim gọi là Tiến sĩ Sử học, nhà biên khảo, mà sao ông ăn nói càn rỡ thế. Sau những luận điệu bịa đặt về chuyện Hồ Chí Minh có vợ, ông nói thêm một câu, dù các cộng sự của ông trong bộ phim có cố tìm cách cũng không xóa được: Ông nói Nguyễn Thị Minh Khai là vợ Võ Nguyên Giáp. Nguyễn Thị Minh Khai là vợ của Lê Hồng Phong. Còn vợ Võ Nguyên Giáp là bà Nguyễn Thị Quang Thái, em gái bà Minh Khai. Chẳng lẽ điều này phải đợi đến những đứa trẻ Việt Nam dạy lại cho ông sao?

    Vẫn ông Vũ Ngự Chiêu nói, Hồ Chí Minh lấy nguyên văn trong Tuyên ngôn Độc lập của Hoa Kỳ làm câu đầu tiên trong Tuyên ngôn Độc lập của Việt Nam. Để ông được “sáng mắt sáng lòng”, tôi xin dẫn cho ông tìm đọc tài liệu này nhé:

    Tạp chí Xưa và Nay số 81B, tháng 11 năm 2000, trang 3 và trang 22, có bài của nhà văn người Hoa Kỳ, bà Lady Borton “Hồ Chí Minh & Tuyên ngôn Độc lập Mỹ”. Là người giỏi tiếng Việt Nam, nữ văn sĩ Lady Borton viết:

    “Các nhà sử học Mỹ luôn nói (có phần nào không đúng) rằng Hồ Chí Minh đã mở đầu bản “Tuyên ngôn Độc lập” của Việt Nam bằng việc trích dẫn “Tuyên ngôn” của Mỹ. Cụ Hồ có kiểm tra lại trích dẫn của mình không? Nếu có thì thế nào nhỉ? Trả lời được câu hỏi ấy, chúng ta có thể đoán được chính xác rằng liệu Cụ Hồ có ngẫu nhiên hoặc cố ý sửa đổi trích dẫn từ bản Tuyên ngôn của Mỹ…

    Bản Tuyên ngôn của Mỹ viết: “… Chúng tôi coi đây là chân lý hiển nhiên, rằng mọi đàn ông (tôi gạch dưới) sinh ra đều bình đẳng”.

    “… We hold these truths to be self-evident, that all men (emphasis mine) are created equal…”

    Khi Tuyên ngôn Độc lập của Mỹ viết năm 1775, “mọi người đàn ông” (all men) là “đàn ông da trắng có sở hữu”, mà “sở hữu” lúc đó thường là nô lệ da đen. Đàn ông da đen có quyền được đi bầu 95 năm sau đó; phụ nữ Mỹ được đi bầu 50 năm sau nữa.

    Khác với Tuyên ngôn của Mỹ, “Tuyên ngôn Độc lập” của Hồ Chí Minh bắt đầu bằng câu:

    “Tất cả mọi người (tôi gạch dưới) đều sinh ra có quyền bình đẳng…”

    “All people (emphasis mine) are created equal…”

    … “Tuyên ngôn Độc lập” của Cụ Hồ bao hàm ngôn ngữ tổng hợp như “dân” (people, common people); “nhân dân” (citizens) và “dân tộc” (nation, the people) cũng là từ chính thức để chỉ bất kỳ dân tộc nào trong năm mươi tư dân tộc của Việt Nam. Từ tiếng Việt để chỉ “đàn ông” (men) không hề xuất hiện ở đây.

    … Hồ Chí Minh rất giỏi tiếng Anh: cụ phân biệt được “đàn ông” (men) với “mọi người” (people). Với việc chỉ sửa một từ trong bản dịch của mình, Cụ Hồ đã khôn khéo nhưng cuối cùng cũng thông báo được cho nhân dân của Cụ và thế giới một cuộc cách mạng thứ hai: đó là Hồ Chí Minh đã tuyên bố độc lập cho phụ nữ Việt Nam”.

    Tôi e bút danh của ông Vũ Ngự Chiêu là Chính Đạo thì nên đổi thành Tà Đạo sẽ đúng hơn.

    Ông Vũ Ngự Chiêu vừa lải nhải ở phần trên rằng: “Hồ Chí Minh muốn giành quyền lực bằng mọi giá” thì phần dưới ông Minh Võ – nhà biên khảo – Hoa Kỳ lại tát cho ông một cái vào mặt: “Chính ông Bảo Đại đã thuật chuyện ông Hồ Chí Minh đến thú thực với ông Bảo Đại rằng, người ta coi tôi quá đỏ, cho nên tôi điều khiển Chính phủ không nổi. Bây giờ tôi đề nghị ngài đứng ra điều khiển đất nước thay tôi”. Chỉ một câu trên của ông Minh Võ, tôi không cần phải dẫn thêm ra đây chuyện Chủ tịch Hồ Chí Minh cử cụ Hoàng Minh Giám đi tìm cụ Trần Trọng Kim để mời ra làm Thủ tướng. Đáng tiếc cụ Lệ Thần quá thận trọng, đã đi Singapore từ trước (Hồi ký cụ Hoàng Minh Giám).

    Ông Trần Gia Phụng – nhà nghiên cứu sử – Canađa được các nhà làm phim “ban” cho cái quyền uy là “người mở đầu trả lời phỏng vấn về diễn biến cuộc tắm máu kinh hoàng tại miền Bắc”? Lúc đó ông Trần Gia Phụng (sinh năm 1942 tại Duy Xuyên, Quảng Nam) hãy còn mặc quần thủng đít mà lại nói chuyện được về “diễn biến” của cuộc Cải cách Ruộng đất như người trong cuộc vậy?

    Ông Nguyễn Ngọc Bích – giáo sư – đã dẫn ra “năm 1951 Hồ Chí Minh nói trước Đại hội Đảng Lao động Việt Nam là không có tư tưởng, nay có Minh triết Hồ Chí Minh”. Là nhà sử học, hẳn ông biết rõ, sinh thời Chủ tịch Hồ Chí Minh chưa bao giờ đề cao mình. Người luôn sống giản dị như một lão nông tri điền, như một bậc túc nho nơi thôn dã. Chỉ sau khi Người mất trong nhiều năm về sau, các nhà nghiên cứu mới phát lộ được những di sản Hồ Chí Minh để lại nằm sâu thành tầng, thành vỉa. Và những người tiên phong nhìn ra tư tưởng Hồ Chí Minh đó là hai nhà văn hóa Phạm Văn Đồng và Võ Nguyên Giáp. Phạm Văn Đồng đánh giá “Hồ Chí Minh là tinh hoa nhân loại”. Còn Võ Nguyên Giáp nhận định “Thế giới còn đổi thay nhưng tư tưởng Hồ Chí Minh sống mãi”.

    Ông Nguyễn Ngọc Bích “sợ rằng dân tộc mình sẽ thành dân tộc cuội”, thì tôi mạn phép ông, nếu Kiều bào ta ở Hải ngoại ai cũng như ông, xin lỗi những người chung giọt máu đào, dù có nói nhịu thành “tồng pào” thì vẫn chung một bọc trứng mẹ Âu Cơ, chắc thế giới nghĩ dân tộc Việt Nam là đại bợm.

    Ông Trương Nhân Tuấn (tên thật Ngô Quốc Dũng, sinh năm 1956 tại Bạc-Liêu) – nhà biên khảo biên giới Việt – Trung – dẫn lời “ông Hoàng Tranh qua một bài phỏng vấn thì ông có nói rằng trước khi ông Hồ Chí Minh mất thì có ước muốn nghe một bài hát Trung Quốc và một cô y tá Trung Quốc đã hát bài hát đó cho Hồ Chí Minh nghe. Nghe xong thì ông Hồ Chí Minh thiếp đi và không bao giờ tỉnh lại nữa”.

    Tôi cảm ơn những điệu nhạc Trung Hoa đệm cho phần trả lời phỏng vấn của ông Trương Nhân Tuấn và tôi cũng xin cảm ơn “phát hiện” của ông. Ông hẳn hiểu câu ngồi lê đôi mach, kiếm chuyện làm quà chứ? Đã là nhà biên khảo biên giới thì ông cứ nói chuyện núi non, sông suối, việc gì ông phải “đớp” vào chuyện Cụ Hồ làm chi. Các cụ người Việt Nam chúng ta xưa vẫn dạy, “biết thì thưa thốt, không biết thì dựa cột mà nghe”. Ông mượn mồm ông Hoàng Tranh (hay ông để mồm mình làm cái loa cho ông Hoàng Tranh cũng được), ông lục tìm lại tất cả các tư liệu xem, những ngày Hồ Chí Minh ốm nặng, chăm sóc Người có ai ngoài nhân dân Việt Nam hay không? Cô y tá Trung Quốc hát bài hát Trung Hoa ấy mọc ở khe nẻ ra hay các ông giàu trí tưởng tượng?

    Những ngày Chủ tịch Hồ Chí Minh sắp lâm chung, Viện Quân y 108 đã cử một tổ cán bộ đặc biệt chăm sóc Bác gồm có: Bác sĩ Nguyễn Thế Khánh – Đại tá, Viện trưởng Viện Quân y 108; bác sĩ Lê Đình Mẫn – người được mang trọng trách sang Liên Xô học khoa ướp thi hài Bác (mà vị bác sĩ này không hề hay biết được giao nhiệm vụ này)… Về phía nữ có ba người là bác sĩ Hàn Thị Nguyệt – Chủ nhiệm khoa Dược Viện Quân y 108; cô Ngô Thị Oanh – y tá Viện Quân y 108; cô Trần Thị Qúy – y tá Viện Quân y 108.

    Có dịp về Việt Nam xin mời ông đến Bệnh viện tư nhân Tràng An trên đường Tôn Đức Thắng – Đống Đa – Hà Nội để nhìn tận mắt cô y tá Nguyễn Thị Oanh, sinh năm 1949, người Việt “trăm phần trăm”, quê ở xã Liên Châu, huyện Yên Lạc, tỉnh Vĩnh Phúc là người đã hát khúc dân ca quan họ Bắc Ninh – cũng Việt Nam “trăm phần trăm” – mang tên “Người ơi, người ở đừng về” ru Bác Hồ vào giấc ngủ vĩnh hằng nhé.

    “Soi sáng những vùng tối lịch sử, thấu đáo những biến cố của cuộc chiến tranh ở Việt Nam vừa qua, không thể không tìm hiểu sự thực về con người Hồ Chí Minh. Đánh giá chính xác con người Hồ Chí Minh chính là góp phần nhận định trước những diễn biến của thực tế xã hội Việt Nam hôm nay. Rất tiếc Hồ Chí Minh không nằm trong số những nhân vật lịch sử mà toàn bộ cuộc sống và con người là trang sách luôn mở rộng cho bất kỳ con người nào mà ai muốn tìm đọc. Cuộc sống và con người của ông luôn lẩn khuất sau những màn che với những mờ ảo của một thứ huyền thoại”. Vâng, những lời bình trên đây của bộ phim, nửa trước thật cảm động, nửa sau đúng là lập lờ. Đúng, Chủ tịch Hồ Chí Minh là một con người huyền thoại, vì Người vĩ đại đến bình thường nhất mà ít người hiểu nổi. Người như con rồng vàng ẩn hiện trong mây. Vì vậy đến hôm nay các nhà làm bộ phim này mới có đất mà diễn tuồng chứ.

    Tôi muốn gửi lời chào tới ông Bùi Tín, “văn kỳ thanh” đã lâu, nhờ bộ phim này mới được “kiến kỳ hình” ông. Ông Bùi Tín vốn là Đại tá quân đội, Phó Tổng biên tập báo Nhân Dân, sang Pháp dự Lễ kỷ niệm thành lập báo Nhân đạo của Đảng Cộng sản Pháp, rồi ở luôn bên đó không về. Với tội đào nhiệm ấy, Nhà nước Việt Nam dư sức truy tố và đề nghị nước bạn cho dẫn độ ông về để lập tòa án. Nhưng với chính sách khoan hồng của Nhà nước, mong muốn của nhân dân Việt Nam chờ đợi ông ngày đó không ai “đánh kẻ chạy lại”. Đáng tiếc rằng ông vẫn ngoan cố.

    Ông hẳn đã được biết trong kháng chiến chống Pháp, Tòa án Quân sự đã mở tại Liên khu III khoảng năm 1950 – 1951 để truy tố cố vấn tối cao Vĩnh Thụy vì tội đào nhiệm ở Hồng Kông chứ? Kết quả là ông Vĩnh Thụy bị kết án tử hình vắng mặt. Còn trước đó, hẳn ông vẫn nhớ, trong phiên họp Chính phủ bàn về chuyện ông Vĩnh Thụy đào nhiệm, khi biểu quyết giơ tay, chỉ riêng mình cụ Bùi Bằng Đoàn – Chủ tịch Uỷ ban Thường trực Quốc hội là không giơ tay. Cụ nói tội ông Vĩnh Thụy đáng bị truy tố, nhưng cụ không nỡ. Quốc hội, Chính phủ ai cũng cảm động trước cốt cách của cụ, vì họ biết cụ đã từng làm Thượng thư Bộ Hình trong chính quyền Bảo Đại.

    Cốt cách của người cha như vậy, sao ông chẳng học được chút nào? Lẽ ra thời kỳ đào nhiệm bên Pháp ông nên im lặng mà sống cho nốt quãng đời còn lại, rồi gửi nắm xương tàn ở bên đó cũng được. Đằng này ông lại bịa ra bao chuyện thật giả lẫn lộn làm hậu sinh không biết đâu mà lần. Nếu không im lặng được, ông không nên dùng tên cũ nữa, tín mà bội, hoặc ông dùng ngay tên mình mà đưa vào ruột một liều thạch tín, chắc chắn hiệu quả cao nhất.

    Còn ông Vũ Thư Hiên, con cụ Vũ Đình Huỳnh – Bí thư duy nhất của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Ông hẳn không quên cha mình vẫn được các đồng chí gọi bằng cái tên thân mật: Vũ Đàng Hoàng. Là con, nối chí cha, lẽ ra ông không nên làm cụ phải xấu mặt dưới suối vàng chứ!

    Người xưa vẫn dạy: “Đêm về khuya biết sao nào sáng nhất/ Người về già biết ai thật hiền nhân”. Về già mọi điều thiện ác đều cứ hiện hết ra khuôn mặt ấy mà. Việc làm cộng với “trông mặt mà bắt hình dong” đủ để thấy các vị Bùi Diệm, Bùi Tín, Nguyễn Minh Cần, Vũ Thư Hiên… đã không chịu cảnh “lão giả an chi” mà vẫn nuôi trong lòng tâm địa đen tối của mối hận thù. Đáng tiếc thay, ở vào tuổi 80 – 90 các vị cứ thung dung an nhàn không muốn, lại muốn “ôm rơm rặm bụng”. Việc gì mà khi trả lời phỏng vấn các vị cứ phải phùng mang trợn má, cố gom nốt chút sức tàn lực kiệt ấy để phều phào vậy. Hãy để dành hơi mà sống nốt quãng đời còn lại, rồi khi nhắm mắt xuôi tay, có muốn về làm phân bón ruộng thì đất Việt Nam vẫn sẵn sàng nhận.

    Tôi xin chịu tội bất kính vì là bậc hậu sinh mà dám múa bút trước mặt các ông, nhưng quả thật, dân gian Việt Nam có câu: “Làm sao bì phấn với vôi”. Còn câu tám chữ tôi mời các cụ luận ra, tôi không dám làm ô uế trang giấy trắng này, các cụ thứ lỗi…

    Ông Nguyễn Ngọc Bích – giáo sư – Hoa Kỳ ơi, cám ơn ông đã có lời phát biểu kết thúc bộ phim: “Trả lại cho Ce’za những gì của Ce’za. Trả lại cho Hồ Chí Minh những gì đích thực thuộc về Hồ Chí Minh. Cuối cùng trả lại sự thật đích thực cho lịch sử”. Tôi xin mạn phép gửi tặng lại ông và đoàn làm phim đã công phu dựng lên bộ phim “Sự thật về Hồ Chí Minh” một câu của đại văn hào Pháp J.J. Rousseau viết trong sách Khế ước xã hội ra đời từ năm 1762 nhé: “…Những tâm hồn thấp kém không thể hiểu thấu các bậc vĩ nhân, cũng như kẻ nô lệ nhe răng cười khi nghe hai tiếng tự do”.

    Đây tôi lại xin có vài lời nhắn gửi tới ba bạn trẻ có lời phát biểu trong bộ phim. Tôi tưởng rằng, như các bạn nói, ở Việt Nam các bạn bị tuyên truyền một phía, nghe bằng một tai, khi ra nước ngoài các bạn được nghe nhiều chiều thông tin, hẳn phải tiến bộ hơn chúng tôi trong nước chứ? Ai ngờ ở ra nước ngoài lại thêm cái bệnh đui, chột, nghe mấy kẻ lòng đầy hận thù để tự bôi đen trái tim mình. Đất nước thống nhất đã 34 năm rồi. Vết thương của dân tộc đã liền sẹo. Những người một thời đã từng cầm súng ở hai chiến tuyến nay cũng bắt tay nhau, ôm lấy nhau cùng chung tay xây dựng Tổ quốc Việt Nam hòa bình, phát triển. Là những người có học thức, là lớp thanh niên, các bạn phải tiên phong trong việc xóa bỏ mọi quá khứ đau thương chứ. Vết thương đau của dân tộc ấy, những người con chung của mẹ Việt Nam không ai muốn. Đó là chuyện dĩ vãng của lịch sử một thời. Tôi không muốn biết tên các bạn là gì, khuôn mặt các bạn ra sao, vì khi xem đến đoạn các bạn đại diện cho tuổi trẻ phát biểu, tôi đã nhắm mắt lại. Tôi nhìn các bạn từ trái tim. Các bạn cũng hãy thử nhắm mắt lại, nhìn mọi việc xảy ra xung quanh bạn bằng trái tim mà xem. Và khi nhìn bằng trái tim, các bạn thử nhẩm đọc câu Kiều của Nguyễn Du sau: “Thiện căn ở tại lòng ta/ Chữ Tâm kia mới bằng ba chữ Tài”.

    Lời cuối cùng tôi muốn nhắn gửi tới tất cả bạn đọc, các nhà làm phim bóp méo sự thật. Mở đầu bộ phim các ông đưa ông Tổng Bush lên nói tới tội ác của Cộng sản giết chết 100 triệu người trên thế giới. Vậy tội ác của người Mỹ gây ra trên đất nước Việt Nam này trong thời gian ném bom miền Bắc, tàn sát miền Nam ai có trách nhiệm? Các vị hẳn biết rõ hai sự kiện ngày 6/9/1945 và ngày 9/8/1945 Mỹ thả hai quả bom nguyên tử đầu tiên xuống Nhật Bản chứ? Di chứng tội ác đó, 64 năm đã trôi qua, vẫn còn đấy. Nhưng chuyện nước Nhật cũng là quá xa xôi, các nhà làm phim và các bạn hãy nhìn bức ảnh dưới đây được tôi chụp tại Trung tâm Phục hồi chức năng trẻ em khuyết tật Thụy An – Ba Vì – Hà Nội: Bà cụ này đang đẩy xe cho đứa cháu nội phải hứng chịu hậu quả chất độc màu da cam (Dioxin). Mầm xanh hy vọng của bà, giờ héo rũ mà chưa biết sẽ vuột khỏi tay bà khi nào. Người có lương tri hẳn phải suy nghĩ : Những đứa trẻ này có tội tình gì ? Còn bao nhiêu và biết đến bao giờ hậu quả đau thương này mới chấm dứt trên đất nước Việt Nam chúng ta?

  21. ai la nguoi viet nam deu hieu cong lao cua bac ho lon lao bjet duong nao.xay dung nen nha nuoc dcch xay dung nen dcs viet nam.dieu do da ghop phan thang loi vao cach mang vn ma cho den nay da hung hon chung to? duoc.aj ko hjeu thj do la nguoj co dau ma ko co oc.hoac la ke? ban nuoc ma thoj

  22. mot lu ban nuoc!khi dat nuoc co nguy thi chay di tim noi an toan de thoat than!khi dat nuoc duoc hoa binh thi lai tim cach boi nho!thu hoi neu ko co Nguoi va nhung nguoi cong san chan chinh khac thi lam sao tui bay dc ngoi ma ban luan, noi xau Dang, noi xau che do nhu ngay hom nay!nen nho la nho hoc o mai truong XHCN nen tui bay moi biet doc, biet viet nhu ngay hom nay!

  23. Tôi sinh ra và lớn lên tại VN sau khi đất nước đã được giải phóng.Ở trường tôi cũng đã học về ls của ĐCS,học tư tưởng HCM…,nhưng lý thuyết và thực tế thì hòan tòan trái ngược với nhau.Lý thuyết ghi “ĐCS do dân vì dân” còn thực tế phải là con ông cháu cha mới được nắm những chức vụ quan trọng trong bộ máy XH.Còn những người dân thường ko có gốc gác thì đố mà làm đc chức gì trong bộ máy đó.Lý thuyết”Đảng mang đến cho nhân dân cuộc sống ấm no,hạnh phúc”.Thực tế hòan tòan trái ngược,Đảng nhà nước bốc lột nhân dân để làm giàu bằng chứng là mặc dù hiện nay nền kinh tế khó khăn thu nhập của người dân còn thấp mà chúng cứ vô tư tăng tiền điện,nước người dân chỉ biết làm theo ko dám chống đối.
    Lý thuyết”Cán bộ là nô lệ cho dân”.Thực tế cán bộ dựa vào chức quyền ăn hối lộ,khi người dân có việc gì mà nhờ đến CA phải đút lót chúng mới chịu làm còn không thì sống chết mặc bay.Cho nên những lý thuyết cho rằng HCM là vị lãnh tụ vĩ đại chắc cũng ko hòan tòan chính xác.Đảng luôn nói HCM suốt đời lo cho đất nước nên ko thể lấy vợ=>tòan là dốc.Có những sự thật về HCM mà Đ không hề nói,ko hề dạy cho HS biết.
    NGay cả tôi là người trong nước và sinh sau chiến tranh,mọi thông tin thật có lẽ đã bị CS bưng bít hết mà tôi còn ko chấp nhận đc chế độ.

  24. Kho nhan biet dung sai ,nhung toi la mot nguoi dan Viet Nam chiu su anh huong cuoc song va nen giao duc Viet Nam ….toi co co hoi di nhieu nuoc va nhin nhan rat khac ve nen dan chu ma dat nuoc dang theo.”Su that” ve HCM co that su dung hay khong ? Lieu “duong loi HCM” co con phu hop voi thoi dai hien nay ? Viet Nam se tro thanh mot cuong quoc hay la con co trong ban tay the luc den toi… Tat ca phu thuoc vao the he tre Viet Nam … Moi nguoi se co mot chon lua cho rieng minh va chon lua do lam nen thoi dai …

  25. Tôi chỉ ước 1 điều là VN đừng dành độc lập từ Pháp, VN hãy thuộc về Pháp từ xưa đến tận bây giờ đi. Nếu như thế thì VN đã ko nghèo khổ như bây giờ, người VN đã ko phải chịu 1 nền giáo dục tồi tệ như bây giờ, mọi người đc tự do nói những gì mình nghĩ, sự thật luôn được phơi bày và ko còn có những nguồn thông tin như thế này để rồi người ta ko còn biết tin ai hay tin cái gì nữa

    • Sự thật vẫn là sự thật và mơ ước của bạn cũng chỉ là mơ ước mà thôi. Nhưng bạn căn cứ vào đâu để nói VN sẽ tốt hơn khi không có nhân vật lãnh tụ HCM?

  26. ko tuong tuong dc cac nguoi co the boi xau Bac nhu the! con ng ko ai hoan hao ca, Bac cung zay, nhung moi ng lai loi chuyen xau cua Bac ra de lam nhu the sao lai ko nghi ve nhung gi ma Bac da lam cho dan toc ta, dat nuoc ta? Neu ko co Bac thi gio may ng chua chac la song dc tot nhu the nay dau!

  27. DIT ME BON CSVN LU CUOP CUA GIET NGUOI BON MAY CHUNG BI LAM NO LE LIEM CUT CHO CON CHAU TAU CONG DI NHE CHUNG NO SE CHIEM VN BON NO SE CAT CO BON MAY MAY VACON CHAU CHUNG MAY LU GIOI BO BUON DAN BAN NUOC HEN HA VOI GIAC TAU BI OI VOI NHAN DAN BON CS VN CHUAN BI BON TAU VAO DOT NHA CUOP CUA VAHIEP DAM VO CON CHUNG MAY O DO CA NGOI HO CHO VA MAO TRACH DONG LU BAN NUOC HAI DAN

  28. DIT ME BON CSVN LU CUOP CUA GIET NGUOI BON MAY CHUNG BI LAM NO LE LIEM CUT CHO CON CHAU TAU CONG DI NHE CHUNG NO SE CHIEM VN BON NO SECAT CO BON MAY MAY VACON CHAU CHUNG MAY LU GIOI BO BUON DAN BAN NUOC HEN HA VOI GIAC TAU BI OI VOI NHAN DAN

  29. Tất cả chứng minh rằng những gì Cộng Sản viết và tuyên truyền về Hồ Chí Minh đều là gian dối, từ ngày sinh đến ngày tử, cuộc đời của ông là một chuỗi dài đi từ xảo trá đến gian ác:

    Hồ Chí Minh tự ý viết bài viết sách ca ngợi chính mình nhưng lấy tên giả là một người khác.

    Hồ Chí Minh vô đạo: lấy vợ bỏ vợ, lấy tình nhân giết tình nhân, sinh con bỏ chợ.

    Hồ Chí Minh gian thâm ác độc: ra lệnh giết 172.008 người trong cuộc Cải Cách Ruộng Đất rồi sau đó đổ lỗi cho địa phương lầm lẫn.

    Hồ Chí Minh phản trắc: hô hào liên minh với các lãnh tụ Quốc Gia chống thực dân Pháp để rồi giết sạch những nhà yêu nước.

    Bọn Cộng Sản Hà Nội thần thánh hóa tên Hồ Chí Minh một cách ngông cuồng, tôn thờ cá nhân, bám lấy cái tên, cái xác chết của ông để mà tồn tại.

    Sau khi Liên-Xô và chủ nghĩa Cộng Sản sụp đổ, Hà Nội đổi hướng tuyên truyền, dựng đứng “Tư Tưởng Hồ Chí Minh” vịn vào đó mà cai trị bằng dùi cui, súng đạn và công an.

  30. Cac vi nen chap nhan su that la cac vi da thua khong thua voi HCM ma thua voi ca mot dan toc, cung khong phai noi nhieu cac ban cu nhin vao nhung gi dang dien ra o Viet Nam thi ro. Quoc te da chap nhan chung ta bang chung la VN gia nhap WTO va binh thuong hoa quan he voi Hoa Ky, mac du chung ta chua duoc coi la doi tac chien luoc cua My nhung voi nhung gi dang xay dung nuoc ta se phat trien hon nua. Hy vong cac ban o nuoc ngoai se nhan ra dieu day ma quay ve xay dung dat nuoc vi bay gio tat ca moi nguoi dan viet nam dang xay dung de phat trien kinh te nang cao doi song cua chinh minh chu khong phai tranh dua mau thuan chinh tri.Mac du Dang cong san co mot so thu doc quyen va chuyen che nhung nhin chung tinh hinh chinh tri xa hoi o Viet Nam rat on dinh, dieu nay rat quan trong vi co nhu vay thi dat nuoc moi phat trien duoc. Vay thi chung ta con mong doi gi hon nao…

    • Trích:

      “tinh hinh chinh tri xa hoi o Viet Nam rat on dinh, dieu nay rat quan trong vi co nhu vay thi dat nuoc moi phat trien duoc.” (hết trích)

      Nếu cái giá của sự ổn định phải trả bằng máu, nước mắt, và thậm chí mạng sống của những người dân vô tội, những người thiết tha yêu thương tự do, dân chủ, những người không thể cam lòng nhìn thấy Tổ Quốc bị bọn giặc nội xâm cộng sản bán dần và bán rẻ cho kẻ thù truyền kiếp Tàu cộng, không thể im lặng khi thấy ngư dân Việt Nam bị Tàu cộng bắn, giết, giam cầm, chiếm đoạt ngư cụ và hải sản, thì cái giá của sự ổn định giả tạo này có đáng hay không?

      Đất nước phát triển cái nổi gì mà trong khi lợi tức đầu người ở Việt Nam vẩn còn thua xa các nước láng giềng như Thái Lan, Malaysia, Indonesia, Taiwan, Singapore, v.v…

      Làm ơn tỉnh cơn mộng du đi nếu không khéo thì mất nước vào tay Tàu cộng lúc nào mà cũng không biết đó mấy ông cộng sản bốc phét

  31. The He Tre VN luon luon tin tuong tuyet doi vao Bac vao Dang CSVN khong co bat ky hinh thuc tuyen truyen duoi bat ky hinh thuc nao lay dong duoc long tin ay. HO CHI MINH MUON NAM DANG CONG SAN VIET NAM MUON NAM

    • Cô Phạm Thanh Nghiên phạm tội “làm đơn thỉnh cầu gởi cho nhà nước xin được biểu tình chống lạm phát” và tội tọa kháng tại nhà với hàng biểu ngữ “HOÀNG SA – TRƯỜNG SA LÀ CỦA VIỆT NAM” như vậy mà bọn Việt Cộng cũng gọi rằng có tội và bỏ tù cô đến 4 năm tù ở và 3 năm quản chế tại gia sau khi mãn án tù. Trong khi hàng chục công nhân Trung Quốc đứng ngay tại Hà Nội và Sài Gòn cầm cờ Trung Quốc biểu tình cùng với nhiều biểu ngữ viết “HOÀNG SA – TRƯỜNG SA LÀ CỦA TRUNG QUỐC” thì lại được Công An Việt Cộng giữ an ninh cho họ được tự do biểu tình xem như những điều họ viết là hiển nhiên, như vậy đã quá rỏ ràng nước Việt Nam ngày nay là đất của Trung Quốc rồi? Còn bọn Việt Cộng là những quan thái thú của Trung Quốc hay là những con chó của Tàu rồi chứ còn gì nữa? Ôi nỗi nhục mất nước vào tay kẻ thù truyền kiếp của dân tộc thật là đau nhói tâm cang những con dân Việt Nam chân chính!

      Đánh cho Mỹ cút “Ngụy” nhào
      Làm chó thằng Tàu bán nước cầu vinh.

      Anh theo Cộng Sản làm chi
      Làm chó Trung Quốc vinh gì hở anh?

      http://radiochantroimoi.wordpress.com/2009/12/14/kỷ-niệm-hai-nam-những-cuộc-biểu-tinh-yeu-nước-khong-quen-anh-thư-phạm-thanh-nghien/

  32. Huyền Thoại HCM chỉ là ảo tưởng, sự thật về Hồ Chí Minh là Hồ Tập Chương người Tàu ( có bí danh là Thiếu Tá Tình Báo Hồ Quang vào năm 1940) vào VN để thực hành sứ mạng cướp nước VN cho TQ theo chiến thuật tầm đỏ ăn dâu).

    1) HCM cướp quyền lãnh đạo đảng CSVN / nhà nước VN: Đánh Tây đuổi Mỹ cho TQ từ 1941-1969.

    2) NĐM ( Con rơi HCM , người Tàu lai Tày ) cũng cướp quyền lãnh đạo đảng CSVN, rước Tàu vào VN / Tây Nguyên VN bằng con đường kinh tế 2001-2010 .

    Với “Những mẩu chuyện về đời hoạt động của Hồ Chủ tịch” ( viết bằng tiếng TQ năm 1947/1948 và được dịch ra Pháp / Anh vào 1949/1950 ) CSTQ đã âm thầm chuẩn bị với dự luận Quốc Tế “HCM là NAQ người VN” . Sách này chỉ được dịch ra tiếng Việt từ những bản nói trên vào cuối thập niên 50 hay đầu thập niên 60 thế ký 20 và cho phổ biến ở VN để qua đó nhà nước CSVN chính thức công nhận HCM là NAQ.

    Thư ký của HCM chưa bao giờ chứng nhận là đã thấy HCM viết “Những mẩu chuyện về đời hoạt động của Hồ Chủ tịch”, bản thảo viết tay bằng tiếng Tàu cũng chưa hề được công bố. HCM viết sách vào thời điểm nào ? Năm 1945 HCM còn phải lo đại sự là cướp chánh quyền của TT Trần Trọng Kim, năm 1946 HCM đi tầu sang Pháp để thương lượng với người Pháp, năm 1947 HCM kêu gọi toàn dân nổi dây đánh Pháp, năm 1948 Bác lại kêu gọi toàn quốc thi đua tăng gia sản xuất …thế thì làm sao mà Bác rãnh rổi đề ngồi viết sách tự kể đời mình !. Như vậy có khả năng là một nhóm tuyên vận tình báo Bắc Kinh nào đó với Bút danh chung Trần Dân Tiên đã viết tác phẩm này nhằm phục vụ cho công tác tuyên vận giới thiệu với Quốc Tế về Nhân vật HCM là NAQ VN và cũng có thể đang nằm trong Cục Lưu trữ của Cơ Quan Tình Báo TQ ở Bắc Kinh cùng với bản TNĐL 2.9 ( cũng được viết bằng tiếng TQ !?) …chờ ngày trình làng để chứng minh HCM là người TQ.

    Với “HCM Sanh Bình Khảo” ( cũng bằng tiếng Tàu năm 2008, thế kỹ 21 ) CSTQ lại âm thầm chuẩn bị dư luận với Quốc Tế về “HCM là người Tàu” nằm trong mưu đồ tóm thâu VN. Đều này cũng đồng nghĩa là trong vòng 10 năm tới VN sẽ đươc CSTQ phù phép đễ sáp nhập vào TQ ( có thể theo hình thức Liên Bang hay chiếm đóng như Tây Tạng bất chầp dư luận thế giới, còn tùy theo dư luận VN / thế giới và sức mạnh quân sự TQ ). Vận mệnh VN hiện nay như “Ngàn cân treo sợi tóc”, có thế sáng tới mở mắt ra là chúng ta đã thấy Quân Lính Tàu đứng đầy ở Ba Đình rồi nếu người VN không nhanh tay dành lại chánh quyền VN trong vài tháng / năm tới. Mất nước lần này là vĩnh viễn !

    Tên HCM-City ( Nam), Lăng HCM ( Bắc, cũng được dùng để trấn yểm Thăng Long VN !? ), Tư tưởng HCM, Tiêm thuốc kích tử cho HCM chết đúng vào ngày / giờ trùng (2.9.1969 / 9 giờ 47 phút) (9) và Tiền HCM… là ý đồ vô cùng thâm độc của CSTQ cũng như nhằm chuẩn bị dự luận quốc tế trước khi tóm thâu VN theo chiến thuật Tằm Ăn Dâu.

    Một Dân tộc không có Độc Lập – Tự Do – Hạnh Phúc và nhận Giặc làm Cha Già Dân Tộc là câu chuyện có thật ở VN vào thế kỷ 20/21.
    Trích từ: Quả lừa lịch sử: HCM / CSVN-CSTQ cướp chính quyền VN
    http://thien2012.multiply.com/journal/item/11

    Bộ mặt Đại Hán Gian HCM ( Hình của Pháp chụp nên chưa bị cạo vẻ lại cho nên thấy rõ HCM là Tàu 100%) – HCM ( với áo đại cán) / Phạm Văn Đồng và phái đoàn tham dự “Hội nghị Fontainebleau 22.6.1946:
    http://i50.tinypic.com/2zxqx68.jpg

  33. THANG CHO DE THU HOAN MAY CO BIET THANG HO VA BON CSVN CHI LALU SON TAC VA DANG CUOP CUA GIET NGUOI VN NHUNG NGUOI VIET SU NHUOI TA NOI LEN SU THUC BON MAY CHO LA PHAN DONG NOI XAU TAO HOI MAY THANG HO CHO CO GI DEM LAI CHO DAN TOC VN =DOC LAP =DANG DAT BIEN DAO HOANG SA VA TAY NGUYN CHO TAU CONG =TU DO NHUNG NGUOI YEU NUOC LEN TIENG HOANG SA VATRUONG SA CUA VN THI BI BAT TU DAY =HANH PHUC =BON CAM NAM CHINH QUYEN CHIEM DAT DAN OAN CHIEM DAT CONG GIAO CHIEM DAT CHUA CHIEN VA DAN NGUOI DAN NOI CHUNG MOT DANG CUOP KHONG HON KEM CCRD=NVGP=TAN CONG KHUNG BO AM SAT DAT BON MIN PHAHOAI VA PHAO KICH GIET CHET 7000 KINH TE MOI NHIEU CUOC DOI TIEN CUOP CAN = MO CHON TAP THE= LOAI SUC VAT KHAT MAU=DUA NGUOI VUOT BIEN CUOP VANG VACHIEM NHA CUA=NHIEU OAN HON CHET OAN DUOI LONG DAI DUONG HAY VUNG BIEN GIOI THE LUONG =MAT BIEN DAO =TUONG LAI LIEM CUT CHO YAU CONG=NEU HO CHO MINH LA DANH NHAN THE GIOI DO UNESCO TANG THI BON CSVN LAM GI BO QUA TUYEN TRUYEN LAO KHOET BIP BOM TREN TIVI VA BAO DAI HOAC TRANH ANH NOI CHUNG CSVN TOAN LUA BIP LU GIOI BO

  34. Trong mấy năm vừa qua, đã xuất hiện một số “cuốn sách” trực diện xuyên tạc về cuộc đời của ÔNG Hồ Chí Minh. Là người Việt Nam ở nước ngoài, tôi thấy cần phải lên tiếng để góp phần bảo vệ cho sự thật đã tồn tại từ nhiều năm qua!
    Trước hết phải nói về cuốn sách của Dương Thu Hương có tên “Đỉnh cao chói lọi” được in ở Pháp gần đây là một sự bịa đặt, hư cấu hoàn toàn về cuộc đời, đặc biệt về giai đoạn cuối đời của Hồ Chí Minh. Tuy không một lần nhắc đến Hồ Chí Minh nhưng nhân vật chính là vị “Chủ tịch” khiến người đọc liên tưởng đến. Tôi không hiểu bà Hương có thâm thù gì với chế độ Cộng sản, về Hồ Chí Minh mà dành tới hơn 800 trang sách để viết những điều hư cấu, bịa đặt về một con người đã được UNESCO công nhận là “Anh hùng giải phóng dân tộc, nhà văn hoá kiệt xuất của Việt Nam” (!)
    Cũng theo xu hướng đó, Minh Võ ở Mỹ cũng cho xuất bản cuốn sách “Hồ Chí Minh – nhận định tổng hợp” vào năm 2003. Tác giả đã tổng hợp từ nhiều công trình nghiên cứu khác nhau về Hồ Chủ tịch thông qua ý đồ đen tối của mình nhằm xuyên tạc, cắt gọt những nội dung trong nhiều tác phẩm tốt của nhiều tác giả ở trong và ngoài nước khẳng định sự cống hiến, tư tưởng, đạo đức sáng ngời của Hồ Chủ tịch.
    Nguyễn Hữu Lễ cùng một số người có chung quan điểm đã quyết định xây dựng “bộ phim” mang tên “Sự thật về Hồ Chí Minh” nhằm “đánh sập thần tượng Hồ Chí Minh”. Do vậy, Lễ và đồng bọn tập hợp thành hệ thống: bắt đầu từ cụ thân sinh ra Hồ Chí Minh; nhày sinh, ngày mất, phủ nhận Bác không phải là tác giả cuốn “Nhật kí trong tù”, phủ nhận giai đoạn cuối cuộc đời của Bác và phủ nhận cả việc UNESCO ra Nghị quyết kỉ niệm lần thứ 100 ngày sinh của Người và công nhận Người là “Anh hùng giải phóng dân tộc, nhà văn hoá kiệt xuất của Việt Nam” .
    Sau khi bộ phim hoàn thành, nhóm người này cho chiếu ở các tiểu bang của nước Mỹ, một số nước Châu Âu, Châu Úc. Bước đầu trong dư luận người Việt sống tại các nước chúng chiếu phim tỏ ra băn khoăn, hoài nghi về các “cứ liệu lịch sử” của “bộ phim”. Dư luận hải ngoại đánh giá từ hình ảnh đến nhân chứng của phim là không đạt, nhiều chi tiết rẻ tiền, không thuyết phục, phản cảm. Đặc biệt là số trí thức, những người Việt Nam hiểu biết ở các nước phương Tây đánh giá “bộ phim” là có “ý đồ chính trị”, là “xúc phạm lãnh tụ”. Nói chung là họ phản ứng, cho rằng đây là sự xuyên tạc trắng trợn và phê phán những người làm “bộ phim” này.
    Họ gán phép cho cuộc kháng chiến chống Mỹ của dân tộc Việt Nam là “tội ác của Hồ Chí Minh” thể hiện qua câu nói của ông Cần: “Ông Hồ đã gây nên cuộc chiến tranh Bắc – Nam, gây nên cái chết của 3 triệu người”. Như vậy, ông Nguyễn Minh Cần đã bộc lộ rõ là kẻ phản bội Tổ quốc, chỉ muốn dân tộc mình đi làm tay sai, làm thuộc địa của đế quốc, và cũng thể hiện ông có thâm thù với chế độ Cộng sản đến nhường nào! Có lẽ vì vậy nên ông đã phủ nhận trắng trợn một thực tế lịch sử mà thế giới thừa nhận!
    Tự đáy lòng mình tôi thấy không ai có thể phủ nhận được những cống hiến vĩ đại của ông Hồ Chí Minh! Vì vậy, những kẻ viết sách, làm phim xuyên tạc Hồ Chí Minh không những không hạ bệ được thần tượng Hồ Chí Minh trong lòng người dân Việt Nam mà chỉ làm một việc tốn công vô ích mà thôi!

    • UNESCO không hề vinh danh ông Hồ Chí Minh !!!

      Nếu tìm bằng Google với từ khóa “danh nhân văn hóa unesco”, chúng ta thu được gần 30 ngàn kết quả, đa số liên quan đến câu hỏi “Hồ Chí Minh có được công nhận là danh nhân văn hóa thế giới hay không?”

      Trước hết, cần biết là tổ chức UNESCO không có danh hiệu “danh nhân văn hóa”, theo nghĩa sau:

      a) UNESCO không có tiêu chí cụ thể để công nhận một danh nhân văn hóa thế giới,

      (b) UNESCO không có lễ trao tặng danh hiệu cho một danh nhân văn hóa,

      (c) UNESCO cũng không lưu trữ một danh sách vinh danh các cá nhân đại diện tiêu biểu cho văn hóa của một dân tộc hoặc có đóng góp quý báu cho quốc tế.

      Ngược lại, UNESCO duy trì một danh sách “di sản thế giới” gồm 890 thực thể (tính đến thời điểm hiện tại 9/2009) ở đây. Vì thế, nếu ai hiểu khái niệm “danh nhân văn hóa” như là một danh hiệu do UNESCO phong tặng thì không đúng.

      Ngày 20 tháng 11 năm 1987, Đại hội đồng UNESCO họp tại Paris, đã thông qua một nghị quyết chung (Nghị quyết 24C) gồm nhiều vấn đề, một trong số đó liên quan đến lễ kỷ niệm 100 năm ngày sinh Hồ Chí Minh vào năm 1990.

      Vì nghị quyết đưa ra năm 1987, nhưng tới 1990 mới là kỷ niệm 100 năm ngày sinh Hồ Chí Minh, trong thời gian đó CS Liên Xô cũng như CS Đông Âu sụp đổ, cộng với sự phản đối của cộng đồng người Việt hải ngoại, nghị quyết vinh danh Hồ Chí Minh đã không được thi hành. Chính vì thế, UNESCO chưa bao giờ vinh danh ông Hồ Chí Minh.

  35. Tôi 17 tuổi,quá trẻ để hiểu những thứ này. Nhưng thật lạ, người phe này nói xấu người phe kia, không có ai đánh giá công bằng cả. Các ông làm ra đĩa này với mục đích “sự thật HCM” hả, sao chỉ thấy có chê bai chửi bới hết vậy, không có một chút gì đáng khen sao? Đứng ngoài mà chê, vậy đặt mình vào tình huống của HCM thì các ông làm được gì, tự tin “tôi làm được hơn” hả?, để thế hệ chúng tối sướng hơn sao? Chắc ko? Người bị đau chân thì chỉ nghĩ đến cái chân đau…
    Làm ơn đừng phản hồi, tôi biết các người sẽ phản hồi gì!

  36. THANG” VAN SAO “CON CHO NGOAN CUA HO CHO MAY DA BI NHOI SO VA TAY NAO CUA BON LOAI GIAC DO QUY SONG DO LA HO CHI MINH LA DIEN HINH TAY SAI MAO VA STALIN BON HO VA CSVN RUOC VOI VE GIAY MA TO HIEN NAY DAT DAI BIEN GIOI BIEN DAO VAO TAY TAU CONG LU BAN NUOC HAI DAN CON CA NGOI THAT DUNG LA LOAI GOI BO VA SUC VAT

  37. NHIN CUOC SONG VA DAT NUOC BIEN DAO MAT DAN VAO TAY TAU CONG NUOC MAT NHA TAN THI BIET CON NGUOI HO CHI CHO THANG HO CHO LA MOT CON CHO DE TAM QUOC TE CS TAY SAI LIEM CUT CHO MAO VA STALIN KE ME BON CSVN VA LU CHAU NGOAN BAC HO NOI VA BIEN BACH CHI CO LU GIOI BO VA SUC VAT MOI NGHE BON CSVN CHUNG TA THAY BAT THUONG SAO CHUNG LUON TUYEN TRUYEN MOI NGAY VE THANG HO CHO O DAU CUNG CO HINH ANH CHO HO NGAY CA TRONG QUAN CUA DAN BA VA NHUNG HAU MON CUA TRE CON O DAU CUNG CO HINH ANH CHO HO!

  38. Tất cả chứng minh rằng những gì Cộng Sản viết và tuyên truyền về Hồ Chí Minh đều gian dối, từ ngày sinh đến ngày tử, cuộc đời của ông là một chuỗi dài đi từ xảo trá đến gian ác:

    Hồ Chí Minh tự ý viết bài viết sách ca ngợi chính mình nhưng lấy tên giả là người khác.

    Hồ Chí Minh vô đạo: lấy vợ bỏ vợ, lấy tình nhân giết tình nhân, sinh con bỏ chợ.

    Hồ Chí Minh gian thâm ác độc: ra lệnh giết hàng trăm ngàn người trong cuộc cải cách ruộng đất rồi đổ lỗi cho địa phương lầm lẫn.

    Hồ Chí Minh phản trắc: hô hào liên minh với các lãnh tụ Quốc Gia chống thực dân Pháp để rồi giết sạch những nhà yêu nước.

    Bọn Cộng Sản Hà Nội thần thánh hóa tên Hồ Chí Minh một cách ngông cuồng, tôn thờ cá nhân, bám lấy cái tên, cái xác chết của ông để mà tồn tại.

    Sau khi Liên-Xô và chủ nghĩa Cộng Sản sụp đổ, Hà Nội đổi hướng tuyên truyền, dựng đứng “Tư Tưởng Hồ Chí Minh” vịn vào đó mà cai trị bằng dùi cui, súng đạn và công an.

  39. MẤY Ý KIẾN VỀ BỘ PHIM “SỰ THẬT VỀ HỒ CHÍ MINH”
    Của Linh mục Nguyễn Hữu Lễ và Trần Quốc Bảo
    Là một trí thức về hưu, tôi vừa xem xong bộ phim “Sự thật về Hồ Chí Minh”. Ghét giả dối, quanh co, biện hộ, một chiều áp đặt, suy nghĩ giản đơn theo lối chủ quan, tôi thích sự thật và luôn luôn ủng hộ sự thật. Nhưng khi xem phim “Sự thật về Hồ Chí Minh” thì tôi lại không ủng hộ “sự thật” này. Không ủng hộ không phải vì những người làm phim chống Hồ Chí Minh, mà cơ bản vì phim không thể hiện được “sự thật”.
    Bộ phim có hai hạn chế lớn, cũng là hai sai lầm lớn, dẫn tới “gậy ông đập lưng ông”. Thứ nhất, sai lầm về phương pháp tiếp cận. Thứ hai, sai về trình bày, phân tích sự kiện. Đây là những sai lầm không thể chấp nhận được đối với những người đã nung nấu nhiều chục năm, chọn thời điểm đưa ra bộ phim vào cuối thập niên đầu của thế kỷ XXI.
    1. Về phương pháp tiếp cận: Phim lắp ghép “Đài kỷ niệm những nạn nhân cộng sản” và những người bỏ nước ra đi sau năm 1975 chẳng liên quan gì đến phim “Sự thật về Hồ Chí Minh” cả . Sự chắp nối gượng ép này khiến người ta liên tưởng đến quân Mỹ tàn sát nhân dân miền Nam Việt Nam thời kỳ 1965-1975 và sự có mặt của lính Mỹ và súng đạn Mỹ ở nhiều nơi trên thế giới.
    Các con số ( ví dụ 100 triệu người là nạn nhân của cộng sản trên thế giới) và các sự kiện thiếu cơ sở khoa học và sự phân tích cũng không khoa học. Hầu như tất cả các sự kiện trong phim, những người làm phim đều dẫn lại từ người này đến người khác, người sau dẫn lại của người trước mà không có một nguồn trích dẫn chính thức khoa học nào
    Một số sự kiện có thật như bức thư của Hồ Chí Minh xin học ở Trường thuộc địa; hoặc Nguyễn Sinh Sắc (cha của Hồ Chí Minh) bị triều đình Huế bãi chức và triệu về Huế thì cách phân tích lại thiếu khoa học, không nắm chắc được bối cảnh lịch sử và quá trình hình thành và phát triển của những sự kiện lịch sử đó.
    Phim cố gắng dẫn nhiều tác giả nước ngoài nghiên cứu về Hồ Chí Minh. Điều này là cần thiết nhưng tại sao chỉ dẫn những ý kiến hoài nghi của các tác giả này về Hồ Chí Minh mà không dẫn những khẳng định, đánh giá cao công lao, sự nghiệp, tư tưởng Hồ Chí Minh. Chẳng hạn, Giáo sư Sophie Quinn-Judge, khi trả lời BBC đã khẳng định: “Dựa vào tài liệu của Pháp viết về những người thân trong gia đình ông Hồ và những lần họ giúp Phan Bội Châu, tôi nghĩ gia đình họ tham gia vào các hoạt động yêu nước chống thực dân từ sớm. Tôi tin là ông Hồ Chí Minh cũng sẽ tham gia vào các hoạt động chống thực dân theo cách này hay cách khác”. Cũng như vậy, dẫn Williams J. Duiker thì các nhà làm phim chỉ dẫn chuyện vợ con, trong khi đó những phân tích quan trọng hơn lại không được nêu ra. Chẳng hạn, Williams J.Duiker phân tích Di chúc của Hồ Chí Minh “khẳng định sự quan trọng của cả chủ nghĩa quốc gia và chủ nghĩa xã hội”. V.v..
    Một điểm nữa là phim chỉ phỏng vấn những người cùng phe cánh, trong nước gọi là những kẻ phản bội Tổ quốc, đi ngược lại mục tiêu và con đường của dân tộc Việt Nam. Tại sao các nhà làm phim không dẫn, phỏng vấn 70 đại biểu quốc tế đến từ 34 nước thuộc khắp năm châu trong Hội thảo Quốc tế kỷ niệm 100 năm Ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh tại Hà Nội năm 1990? Vì không dẫn nên người xem phim hoàn toàn có quyền nghi ngờ về tính “sự thật” của bộ phim…
    Thứ hai, về phân tích sự kiện: Điểm này liên quan tới tới phương pháp tiếp cận đã nêu trên. Trước hết phải nói ngay rằng phim đưa ra toàn các sự kiện cũ, thậm chí quá cũ, đã được các nhà sử học trong và ngoài nước phân tích, mổ xẻ và kết luận hàng chục năm rồi. Chẳng hạn, sự kiện bức thư của Hồ Chí Minh xin học ở Trường thuộc địa. Nhân dân Việt Nam không cần đến ông Nguyễn Gia Phụng “khoe” có bức thư và đã dịch ra tiếng Việt. Tại Bảo tàng Hồ Chí Minh có bức thư này và mọi người đều biết. Nhưng đọc bức thư, ai cũng hiểu rằng việc “anh Nguyễn ra nước ngoài để khám phá, tìm hiểu thế giới, học tập và làm việc, xem người ta làm thế nào rồi trở về giúp đồng bào tôi” đã được Hồ Chí Minh khẳng định từ lúc trạc13 tuổi. Từ năm 1969, Linh mục Trương Bá Cần đã từng lý giải sự kiện này, rằng “chuyến đi của Nguyễn không phải là để tìm kế sinh nhai, mà là để tìm một giải pháp cho quê hương, vì đi tới đâu cũng nhận xét, cũng ghi chép, cũng tìm bạn, cũng gây ý thức”. Điều quan trọng hơn là một câu rất quan trọng trong bức thư lại không thấy ông Phụng dịch. Câu đó nói rõ mục đích việc xin vào học Trường thuộc địa là “có thể dùng nền học vấn để giúp ích cho đồng bào của tôi, để cho họ được hưởng những hữu ích của nền học vấn mà tôi thu thập được”. Trường Thuộc địa là để đào tạo tay sai phục vụ cho nước Pháp, chứ không phải để phục vụ cho dân thuộc địa. Ông Phụng và tất cả mọi người đều biết điều đó. Vậy nên, nếu bức thư viết toạc ra ý đồ học để chống Pháp thì không những không bao giờ được nhận học mà còn bị bắt, bị giết. Điều này cũng đã được Daniel Hémery, 26 năm trước, trong Kỷ yếu của Hội thảo Việt Nam- Á châu lần thứ nhất, Nxb. Hácmatan (L’Harmattan, Pari, 1983, Daniel) – bằng nhiều tư liệu khai thác ngay trong các hồ sơ lưu trữ của Pháp, những hồ sơ “tối mật” của Bộ thuộc địa Pháp- đã khẳng định dứt khoát: “Không thể căn cứ vào lá đơn xin học năm 1911 để gán ghép cho Nguyễn Tất Thành ý định sau này khi học xong sẽ trở thành người cộng tác với chính quyền thuộc địa”. Với nền văn hóa Pháp, Daniel Hemery còn phân tích, “trong khuôn khổ một lá đơn xin học Trường thuộc địa, lời lẽ phải lịch sự, theo đúng công thức về ngôn ngữ”.
    Sự kiện tác giả cuốn “Ngục trung nhật ký”, các tác giả phim cho rằng không phải của Hồ Chí Minh với lý do khi được hỏi về cuốn “Ngục trung nhật ký”, thì “ông Hồ phá ra cười, không nhận mình là tác giả”. Không quá trách các tác giả làm phim, vì họ thật sự không hiểu Hồ Chí Minh. Xin nhắc lại, nhiều trường hợp Hồ Chí Minh không bao giờ nhận về mình như khi học trò của Người nói Người là nhà báo, nhà văn, nhà thơ… Người chỉ nhận mình là nhà hoạt động cách mạng chuyên nghiệp. Song điều quan trọng hơn là những địa danh, sự kiện, nhân vật trong “Ngục trung nhật ký” đều diễn ra trong 2 năm 1942-1943 (Hồ Chí Minh bị bắt ở Quảng Tây trong thời gian khoảng 13 tháng, từ 29-8-1942 đến 10-9-1943), đều gắn liền với Quảng Tây, với Trung Quốc, chứ không phải Hồng Kông như Lê Hữu Mục và những người làm phim xuyên tạc.
    Liên quan đến sự kiện này, có chỗ các nhà làm phim phê bình là “ông Hồ không có tư tưởng nào nhất quán, khi thì Tôn Dật Tiên, khi thì Mác, khi thi Mao, khi thì Lênin, thay đổi luôn luôn như con tắc kè” (!?). Đúng là các nhà làm phim không hiểu thế nào là nhà tư tưởng, nên không hiểu tư tưởng Hồ Chí Minh cũng không có gì là lạ. Theo các nhà làm phim, có lẽ, đã là nhà tư tưởng thì không được phép tiếp thu có chọn lọc trí tuệ nhân loại?
    Sự kiện ngày mất của Hồ Chí Minh cũng vậy. Cách đây 20 năm (9-1989), Đảng Cộng sản Việt Nam đã công bố chính thức ngày mất của Chủ tịch Hồ Chí Minh là 9 giờ 47 phút ngày 2 tháng 9 năm 1969 và cũng nói rõ lý do tại sao khi Hồ Chí Minh qua đời lại công bố ngày mất là 9 giờ 47 phút ngày 3 tháng 9 năm 1969. Nếu ông Nguyễn Văn Trần vẫn giữ quan điểm cho đó là “dối trá, phản khoa học, phản văn hóa” thì hãy đọc Duiker, rằng “đó là việc làm để giữ tâm tình của quần chúng trong ngày lễ độc lập của quốc gia vào ngày 2-9-1945, khi ông Hồ đọc bản Tuyên ngôn độc lập ở Quảng trường Ba Đình”.
    Tôi có thể trao đổi rõ hơn các nội dung còn lại với Linh mục Nguyễn Hữu Lễ và Trần Quốc Bảo. Nhưng hẹn một dịp khác. Điều cuối cùng muốn trao đổi với các nhà làm phim là không khéo các ông lại làm cái chuyện “gậy ông đập lưng ông”. Ý đồ các ông là nhằm hạ bệ thần tượng Hồ Chí Minh, nhưng với cách làm này không khéo chính các ông lại bị hạ bệ và người ta càng thấy giá trị cao quý của Hồ Chí Minh. Lẽ thường tình, nếu thật sự ai đó xấu xa (như Hítle chẳng hạn) và không có ảnh hưởng gì thì không cần phim của các ông, mọi người cũng có thể biết. Nhưng vì các ông làm phim này, nên mọi người có quyền đặt câu hỏi tại sao lại phải hạ bệ Hồ Chí Minh?. Những lý do đưa ra để hạ bệ lại thiếu sức thuyết phục. Vì vậy, có thể các ông đang tuyên truyền tốt đẹp (vô thức) cho Hồ Chí Minh. Các ông đang gieo vào đầu nhiều người giá trị cao quý của Hồ Chí Minh.

  40. Chi co nhung nguoi ngo nghech lam moi khong thay duoc Ho Chi Minh la mot can bo cua cong san quoc te. Cai duoc goi la DOC LAP cua Viet Nam hien nay chi la con de cua Nga Xo, nhat la Trung Cong. Hau qua ra sao, da thay ro roi do. Viet Nam ngay nay chi la con chot thi cua Trung Cong, neu khong phai tu 1945 thi cung tu 1954, khi HCM mo toang bien gioi cho quan thu truyen kiep xam lang nuoc ta. Ket qua la lanh tho, lanh hai ngay cang teo lai va VN mac nhien da lot vao vong kiem toa cua Trung Cong. Khong thay sao ! Hoi nhung ke con tan tung cong lao cua HO CHI MINH !

  41. Tôi là công dân VN và ngày nào tôi cũng nghe và xem ti vi thấy ca ngợi Đảng và Bác .tôi dám cá với những người gửi phản hồi trong trang này 1 nghìn ăn 1 tỷ đố ai thống kê dc tài sản của Thủ Tướng Chủ Tịch Nước và Tổng Bí Thư.Cá như vậy thì ai cũng hiểu Đảng ta Như thế Nào…

    • Đụ má thằng già hồ

      Đụ má thằng già hồ phản dân hại nước, tao căm thù mày và chế độ cổng sản này. Việt Nam Cộng Hòa muôn năm, đả đảo cộng sản. Tao sinh năm 1991 nên còn rất trẻ 1 ngày nào đó tao sẽ lật đổ chế độ này và đái lên xác mày thằng lồn hcm. lồn má mày

  42. that vay sao .Y cac ong la nguoi Viet Nam khong can dautranh de gianh doc lap dung khong .HCM chibdua ra loi keu goi con chu ng toi tu nguyen lam theo dau co ai ep buoc .Cac ong da bao gio tu hoi vi sao nguoi Viet Nam chung toi lai tin Bac den nhu vay khong .Do la vi Bac lam theo y chi nguyen vong cua nguoi dan chu khong nhu nhung ke tu xung la di khai hoa da lam gi cho dan toc gua chung toi .nhung ke day chung toi vao nhung cuoc chien chong lai dong bao minh giup ho di xam chiem cac nuoc khac .Cac ong op hai ngoai boi cac ong tron chu chung toi dau co xua duoi hay bat giam cac ong dau

    • -Sao bạn biết là không bắt giam?Cha tôi chẳng “taito mặt lớn “gì,chỉ là quân nhân giải ngũ,rồi làm thư ký tòa…cũng đi cải tạo-anh chị tôi không được thi ĐH,người nào được học thì không cho làm như tôi…rồi sinh sống làm sao khi nhà bị tịch thu, của cải bị “đánh tư sản”…
      -Mấy chị em giờ cũng “vượt biên” qua Đài Loan, Hàn Quốc,Campuchia…cũng có ai “giam” họ đâu- 85 triệu dân cũng đâu có ai giam hiện nay…không biết bạn có sống ở nước ngoài chưa,chứ hồi mới tu nghiệp một năm thôi ,tôi mới biết “nhân quyền” là gì.
      Đôi lời ngỏ,chứ tôi không có ý mạ lị,khiêu khích…

  43. tôi thật không hiểu những kẻ được coi là những nhà nghiên cứu lại phát ngôn ra những lời như vậy. Bọn chúng chỉ là những tên giác rười không sứng là người gốc Việt chính họ là những người bán nước bôi nhọ đất nước, HCM không ai có thể phủ nhận công nao mà Bác Hồ đã dành cho dân tộc Việt Nam. Đừng nghe những gì họ nói họ chỉ là những người bán nước bôi sấu bác và đất nước ta mà thôi. bác Hồ vẫn là người đen lại cho chúng ta những tự hào dân tộc tôi yêu cầu những người nhận tiền của bon phản động hãy ngừng nói sấu HCM và đất nước chúng tôi

    • Thời buổi này mà có người còn tự đâm tai móc mắc vặn lưỡi mình. Nói ngọng, viết cũng ngọng.

  44. Hồ Chí Minh là một tên đại tội đồ của dân tộc Việt Nam, một tên đại dâm, đại ác, và đại phản quốc !!!

    Hồ Chí Minh, thủ phạm gây ra chiến tranh Nam-Bắc, kẻ đã ra lệnh giết 172.008 người trong chiến dịch Cải cách ruộng đất, sau đó, sửa sai bằng cách xử tử những cán bộ đã thi hành lệnh Cải cách ruộng đất của ông ta.

    Chính Hồ Chí Minh, trước khi chết, đọc bài thơ chỉ thị cho cuộc tấn công Tết Mậu Thân (1968) giết gần 100.000 bộ đội, và vài chục ngàn quân nhân và dân sự miền Nam.

    Riêng ở Huế, với lệnh của Hồ Chí Minh, bọn đồ tể khát máu đã giết gần 6.000 người vô tội bằng cách xỏ xâu, rồi xử bắn, hoặc đập đầu bằng cuốc cho chết. Hàng chục nấm mồ tập thể được tìm thấy với những thây người bị đập chết như mèo chó.

    Nhân đây chúng ta cũng hỏi tại sao Nhật Bản đã xin lỗi Cao Ly về những bạo hành trong thời gian chiếm đóng và về vấn đề bắt phụ nữ làm nô lệ tình dục trong Thế Chiến II. Nhật Bản đã xin lỗi Trung Hoa về biến cố Nam Kinh tháng 11-1937 giết hại khoảng 300.000 người.

    Tại sao Nhật Bản chưa xin lỗi Việt Nam về nạn đói năm 1945 với hai triệu người chết? Tại sao nhà cầm quyền Hà Nội, lại tỏ ra rụt rè sợ sệt trước tư bản Nhật Bản, không dám mở miệng đòi hỏi Nhật Bản phải xin lỗi Việt Nam như Trung Hoa và Cao Ly đã làm?

    Cộng sản Hà Nội không làm việc nầy chỉ vì một lý do dễ hiểu: chính Hồ Chí Minh và Việt Minh cộng sản là tòng phạm gây ra nạn đói năm 1945, giết hai triệu người miền Bắc chết.

    Do những lẽ đó, CSVN không làm lễ tưởng niệm các nạn nhân nạn đói năm 1945.

    Cũng vì sợ đồng bào Huế cùng nhau tưởng niệm bà con bị CS giết trong trong vụ Tết Mậu Thân (1968) trở thành một phong trào chống cộng âm thầm, nên cho đến nay, dù đã hơn 40 năm sau, cứ vào mỗi dịp Tết đến, tại Huế, CSVN vẫn cứ cho báo chí và truyền thanh địa phương ca ngợi chiến thắng Mậu Thân mà họ thật sự thất bại, để khủng bố tinh thần dân chúng.

    Theo số liệu trong sách Le livre noir du communisme : crimes, terreur et répression, do Stéphane Courtois chủ biên, Edition Robert Laffont, S.A. Paris 1997, thì số nạn nhân của các chế độ cộng sản các nước trên thế giới có thể ước lượng như sau:

    Cộng Hòa Nhân Dân Trung Hoa: 65 triệu
    Liên Xô: 20 triệu
    Cambodia: 2 triệu
    Bắc Triều Tiên: 1,5 triệu
    Việt Nam: 1 triệu
    Đông Âu: 1 triệu
    Afghanistan: 1,5 triệu
    Phi Châu: 1,7 triệu
    Nam Mỹ: 150,000

  45. Bác Hồ là một tượng đài trong mắt mọi người,đó không phải là kết quả của chính sách mị dân kiểu mới của các đảng phái phản động bên ngoài nêu lên.Không ai có quyền và không ai có thể phủ nhận những gì mà Bác đã mang đến cho chúng ta.Vì thế tôi kêu gọi nhừng ai có suy nghĩ hãy bỏ ngoài tai những lời lẽ xuyên tạc, bôi xấu đi những gì tốt đẹp nhất.Bác Hồ không phải là thánh nhân, cũng không phải là người mà chúng ta thần thánh hoá, nhưng Bác là vị lãnh tụ vĩ đại, là người mang đến ngày hôm nay, không một ai có khả năng va có quyền phủ nhận sự thật đó!

  46. lũ chó con cháu hcm bán nước cho tầu

  47. chúng tôi sinh ra và lớn lên sau nhưng năm đất nứưc được giải phóng, mối ché độ, xã hội nào cung có cái được và chưa đựưc, tốt và sâu du xã hôi có vật chhát tốt biết bao,Tóm lại các ông đã theo chân những người nước ngoài,muốn bôi nhỏ, nói sấu nhà nước chúng tôi và trong số đó là một số ít các ông con hân thu sau cuộc chiến mà người gòi là thua trần mâ thội.Tôi yêu cầu những người hiệu biết, có học không nên nbói sấu, suyện tạc về bác hồ của chúng tôi

    • Ai giải phóng ai, ai cần được giải phóng, ai đã bán nước cho tầu, ai đã làm cho Việt Nam từ một nước đứng đầu Đông Nam Á thành một nước nghèo đói nhất thế giới. Không sợ ai bôi nhọ nhưng hãy nhìn vào sự thật của đất nước mà đứng lên nếu không muốn bị tiêu diệt như Tây Tạng hay Tân Cương.

    • Nếu hcm là thánh nhân thì lịch sử sẽ trả lời, không ai có thể bôi xấu được, những lời bôi xấu sẽ trở về người bôi xấu. Đừng hoảng lên, đừng có tật giật mình. Không ai có thể bôi xấu được Đức Đạt-Lai-Lạt-Ma 14, cũng không ai có thể bôi xấu được Thánh Gandhi. Những lời bôi xấu Đức Đạt Lai Lạt Ma 14 và Thánh Gandhi đã trở về người bôi xấu. Lịch sử đã chứng minh điều đó.

  48. Việt Nam sẽ theo chân Bắc Triều Tiên.
    Để khống chế lạm phát,vào lúc 11 giờ ngày 30.11.09,Bắc Triều Tiên bất ngờ cho ngưng giao dịch tiền tệ và đến 14 giờ cùng ngày họ tuyên bố đổi tiền lần thứ 4 kể từ năm 1947,lần đổi tiền sau cùng là năm 1992.
    Đơn vị tiền tệ của Bắc Triều Tiên cũng là Đồng Won như Hàn Quốc nhưng không có giá trị trao đổi trên thị trường quốc tế.
    Tiền mới có giá trị gấp 100 lần tiền cũ,1000 won cũ đổi được 10 won mới.
    Riêng đối với Việt Nam,trước sức ép tỷ giá của thị trường ngoại hối và giá vàng tăng cao nên trong phiên họp chính phủ thường kỳ tháng 11 vừa kết thúc chiều nay 1.12,Thủ Tướng ra chỉ thị cho các ban ngành liên quan can thiệp tỷ gía nếu cần và nếu trong trường hợp bất khả kháng sẽ không loại trừ biện pháp đổi tiền.
    Các loại tiền như sau sẽ được thay thế bằng tiền đồng mới có giá trị bằng 1.000 lần tiền cũ.
    Giấy bạc 500.000 đồng. Ngày phát hành: 17/12/2003
    Giấy bạc 200.000 đồng. Ngày phát hành: 30/8/2006
    Giấy bạc 100.000 đồng (loại mới in trên polymer).
    - Ngày phát hành: 01/9/2004
    Giấy bạc 50.000 đồng (loại mới in trên polymer).
    - Ngày phát hành: 17/12/2003
    Giấy bạc 20.000 đồng (loại cũ in trên giấy cotton).
    - Ngày phát hành: 02/3/1993
    Giấy bạc 20.000 đồng (loại mới in trên polymer).
    - Ngày phát hành: 17/5/2006
    Giấy bạc 10.000 đồng (loại cũ in trên giấy cotton).
    - Ngày phát hành: 15/10/1994
    Giấy bạc 10.000 đồng (loại mới in trên polymer).
    - Ngày phát hành: 30/8/2006
    Giấy bạc 5.000 đồng. Ngày phát hành: 15/01/1993
    Giấy bạc 2.000 đồng. Ngày phát hành: 20/10/1989
    Giấy bạc 1.000 đồng. Ngày phát hành: 20/10/1989

  49. DAO HAI Lưỡi.
    Trước năm 1989 có ai trong chúng ta dám tuyên đoán thành trì cộng sản ở Đông Âu sẽ sụp đổ.Bây giờ đã 20 năm trôi qua,thời gian đã quá dài cho sự tồn tại của những quốc gia cộng sản còn lại;Trung Quốc hiển nhiên trở nên thành trì cho chủ nghĩa cộng sản,trong đó có Việt Nam,Lào,Bắc Triều Tiên,Cu Ba.Trung Quốc phải hậu thuẫn,lôi kéo thêm các quốc gia bị thế giới lên án vì độc tài,hiếu chiến như Miến Điện,Iran vào quỹ đạo của mình để tạo nên thế mạnh.
    Tại Việt Nam,hơn ai hết các cán bộ lãnh đạo cũng nhận rõ ngày một,ngày hai sớm muộn gì rồi các quốc gia cộng sản còn lại cũng sẽ bị đào thải.Họ ra sức cấm đoán việc sữ dụng Internet bằng nhiều hình thức nhằm cố gắng bưng bít các thông tin trung thực,đa chiều,họ đàn áp thẳng tay các hoạt động tự do,tôn giáo.Thật ra cũng giống như con bệnh đã ở vào thời kỳ cuối,mọi sự chỉ nhằm kéo dài thêm thời gian đau khổ mà thôi.
    Để chuẩn bị cho ngày X sắp đến,các cán bộ đã chuyển những khoảng tiền vơ vét của mình để gởi sang các quốc gia Tây Phương.Họ cho con em sang du học ở các nước tư bản để chuẫn bị cho ngày lịch sữ ấy.Đừng thấy người cộng sản mạnh tiếng ca ngợi cho chế độ mà lầm,mỗi người trong họ đã thủ sẵn cho mình con dao hai lưỡi rồi đó.Trong mọi trường hợp họ đều ở thế thượng phong,khi đất nước dành lại được nền dân chủ,họ chỉ cần uốn ba tấc lưỡi nói:”Thấy chưa,tôi biết chắc sẽ có chắc ngày nầy nên đã cho con em tôi sang bên ấy du học đấy”…Ai cấm được “Lưỡi không xương,trăm đường lắc léo”.
    LỜI THỐ LỘ CỦA MỘT CÁN BỘ CAO CẤP/CHUYỆN THÂM CUNG BÍ SỬ.

  50. Vào trang này để coi Tăng Tuyết Minh và Nguyễn thị Minh Khai. Hồ chí Minh lấy Tăng Tuyết Minh, cưới hỏi đàng hoàng, đến khi Tăng Tuyết Minh có bầu, Hồ chí Minh ép phải phá thai, rồi HCM bỏ đi qua Liên Xô, sau về Thái lan.

    Có bức thư Hồ chí Minh viết gửi cho Tăng Tuyết Minh, bút tích rõ ràng ……..

    http://www.boxun.com/hero/2006/nanshanxia/45_1.shtml

    • 好好

  51. Thật Sự Lật Tẩy Sự Thật Dioxin

    Hơn 4 triệu người Việt Nam bị các chứng ung thư, dị dạng, đẻ non, sẩy thai; làng ung thư xuất hiện ngày càng nhiều trở thành vấn nạn xã hội xót xa, không thể bịt mắt bưng tai.

    Việt Nam trút tất cả tội lỗi lên “Chất độc Màu Da cam” do quân đội Mỹ phun xịt trên chiến trường miền Nam rồi đâm đơn lên các Tòa án ở Hoa Kỳ để kiện 37 công ty hóa chất.

    Trước “sự thật” do phía Việt Nam và các đồng minh quốc tế viện dẫn, nhiều người trên thế giới, đặc biệt các khoa học gia gốc Việt thuộc Hội Khoa học & Kỹ thuật Việt Nam đã trình bày trong nhiều tiểu luận chứa những dữ kiện khoa học nhằm soi sáng nguyên nhân “thật sự” của vấn nạn.

    Nhiều tiểu luận tập trung vào cuốn “Câu chuyện Da cam/Dioxin Việt Nam” đã xuất bản trong tháng 3-2008 có thể giúp cho độc giả thông suốt một vấn đề vốn làm chạnh lòng nhân loại.

    DIOXIN DƯỚI MẮT CÁC NHÀ KHOA HỌC

    Sau năm 1975, Hoa Kỳ cho thành lập Quỹ Môi sinh Quốc phòng (Environmental Defense Fund) trên 1 tỉ mỹ kim để cấp cho các khoa học gia nghiên cứu về chất độc quân sự tác động lên con người đã khơi nguồn những cuộc Hội nghị và các bản Báo cáo thẩm định chiến dịch Ranch Hand.

    Trong 9 năm (1962-1971), quân Mỹ đã phun xịt 73 triệu lít thuốc khai quang (hỗn hợp 50/50 của 2 hóa chất 2,4-D và 2,4,5-T) trên 23,500 km2 ở nhiều vùng thuộc lãnh thổ Việt Nam Cộng Hòa. Quá trình sản xuất 2,4,5-T cho ra thế phẩm Dioxin (TCDD) nên nồng độ Dioxin trong thuốc khai quang ở Việt Nam từ 0,1 đến 0,2ppm, tương đương với thuốc diệt cỏ ở Mỹ. Ước tính 180kg Dioxin có trong hỗn hợp thuốc khai quang được sử dụng tại miền Nam vĩ tuyến 17.

    Chính phủ Hà Nội cố ý đồng hóa thuốc khai quang với Dioxin khiến cho dư luận nhầm tưởng quân Mỹ đã rãi 73 triệu lít “chất độc màu da cam”. Màu da cam chỉ chiếm 60% số lượng thuốc khai quang đã sử dụng.

    Danh sách 12 hóa chất dơ bẩn được Liên Hiệp Quốc thông qua tại Hội nghị ở Thụy Điển năm 2002 đã bị cấm sản xuất và sử dụng, không bao gồm Dioxin vì nó chưa được thử nghiệm hoàn chỉnh về tác hại lên con người.

    Ngoài ra, Dioxins (số nhiều) gồm Dioxin (số ít) cộng thêm 7 chuyển hóa chất của TCDD đã tiềm ẩn trong thực phẩm và môi trường với tỉ lệ gây ung thư 1/1.000 người. Hoa Kỳ ước tính tỉ lệ Dioxins trong năm 1995: 31% do đốt phế thải độc hại, 38% từ đốt rác và rừng, 11% từ công nghệ chế biến kim loại, và các nguồn khác.

    Sức khỏe con người bị tác hại bởi nhiều nguyên nhân khác nhau mà phía Việt Nam trưng bày các dữ liệu thiếu luận chứng khoa học mặc dù từng bắt đầu nghiên cứu “chất độc màu da cam” từ năm 1970.

    Trong các cuộc Hội nghị, Việt Nam chỉ đưa ra những gợi ý mang tính chất “khẳng định” về tác hại của chất độc màu da cam mà thiếu bằng chứng thuyết phục. Hội nghị năm 1983 đưa ra có 2 mẫu đất với nồng độ Dioxin 5 và 14ppt. Hội nghị 1993 thừa nhận thêm tác nhân gây ung thư từ hóa chất nông trang và thuốc bảo vệ thực vật.

    Báo Lao động 26-01-01 viết “Bác sĩ Lê Cao Đài suốt 20 năm ròng rã lo đối phó với hậu quả của chất da cam … khi các xét nghiệm Dioxin trên máu chưa có, vận động những người cho mỡ không được, ông lấy mỡ của mình để xét nghiệm” !!! Lê Cao Đài không dự Hội nghị 1983, không công bố nghiên cứu tại Hội nghị 2000 ở Monterey (Mỹ) mà chỉ công bố vào năm 2001.

    Tháng 7-2000, Chính quyền Hà Nội cho phép Bác sĩ Arnold Schecter mang về Mỹ 10 mẫu máu tình nghi tiếp nhiễm Dioxin, nhưng tịch thu những mẫu đất mang theo.

    Việt Nam không hợp tác thực hiện Bản Ghi nhớ tại “Hội nghị Khoa học về Ảnh hưởng của Chất Da Cam/Dioxin Đối với Sức khỏe và Môi trường ở Việt Nam” được tổ chức tại Hà Nội vào tháng-02 nhằm mở đường cho tiến trình nghiên cứu khoa học sâu rộng nên Hoa Kỳ đơn phương chấm dứt dự án vào năm 2005.

    Chính phủ Phan Văn Khải đã ban hành Nghị quyết Bảo vệ Bí mật Quốc gia về Dioxin vào tháng 10-03 nhằm ngăn chặn những thông tin “chưa được chế biến”.

    Bác sĩ Arnold Schecter đã tìm thấy 6/16 mẫu thực phẩm từ Biên Hòa có chứa Dioxin (số ít) để thuyết trình đề tài “Thực phẩm là một nguồn tiếp nhiễm Dioxin của cư dân thành phố Biên Hòa Việt Nam” tại Hội nghị Boston 2003. Trong khi đó các hóa chất trong danh sách dơ bẩn hiện diện trong tất cả các mẫu có hàm lượng cao hàng ngàn hàm lượng Dioxin mà không được nói tới. Các mẫu do Bác sĩ Hoàng Trọng Quỳnh lấy ở Biên Hòa chuyển qua phòng thí nghiệm ở Đức.

    Được đài Á châu Tự do phỏng vấn cùng TS Mai Thanh Truyết ngày 21-08-03, BS Arnold Schecter phát biểu “Tôi không nghĩ Dioxin là tác nhân chính cho các chứng dị hình, dị dạng nơi trẻ em và Dioxin cũng không phải là tác nhân duy nhất ở gây ung thư cho người lớn ở Việt Nam, bởi vì các hóa chất độc hại đã được tìm thấy trong 16 mẫu thực phẩm vừa phân tích cũng có thể là tác nhân. Trong mấy chục lần qua Việt Nam, tôi gặp rất nhiều bệnh nhân và họ cho biết đã “cảm thấy-feel” là do chất độc da cam gây ra”.

    Mặc dù vậy, Arnold Schecter vẫn “khẳng định” trong điện thư 18-06-03 “hàm lượng Dioxin trong thực phẩm xuất cảng Việt Nam rất thấp” mâu thuẫn với điều đã trình bày trong Hội nghị 2002 “hàm lượng Dioxin trong máu của cư dân Biên Hòa gấp 203 lần người nơi khác”.

    Hội nghị Boston 2003 về Các chất ô nhiễm Hữu cơ Halogen (HOPs) và các chất ô nhiễm Hữu cơ Bền vững (POPs) được gọi tắt Boston, Dioxin 2003 (đúng ra phải viết Dioxins số nhiều) trong khi đề tài liên quan đến Dioxin chỉ chiếm 5%.

    Chính phủ cấm các tài liệu và nghiên cứu độc lập về Dioxin dù là người Việt Nam hay ngoại quốc. Các “khoa học gia” đồng minh của Hà Nội tung ra những dữ kiện thiếu luận chứng khoa học. Do đó, không thể biết rõ nguyên nhân để tìm cách chữa trị đúng mức vấn nạn Dioxin.

    Báo cáo Công ty Tư vấn Hatfield công bố vào tháng 4-2000 đã tuyên bố “vùng đất ô nhiễm” Dioxin cho A Shao và A Lưới. Nhưng, hàm lượng Dioxin trong đất vào năm 1999 là 220ppt so với định mức đất cư trú 350ppt ở Gia Nã Đại. Lượng Dioxin trong máu dân A Shao là 41 ppt so với cư dân trong vùng nhà máy sản xuất tại Đức 331, tại Nga 202. Cho tới nay tại Đức và Nga chưa thấy báo cáo chính thức về dị hình, dị dạng, ung thư. Một người nặng 50 kg sống ở Hoa Kỳ trong 20 năm sẽ hấp thụ lượng Dioxin lớn gấp 4 lần so với cư dân tại A Shao, A Lưới.

    Báo Nhân Dân 16-11-07 viết rằng thung lũng A Shao hiện nay cây trồng ruộng lúa tốt tươi, cá trong ao hồ khỏe mạnh, người dân có nguồn nước sinh hoạt sạch sẽ.

    Vậy thì, có trái với những lời tuyên truyền về sự tác hại lâu dài của “chất độc màu da cam” hay không?

    Tai nạn hóa chất liên hệ đến Dioxin từng xảy ra nhiều nơi trên thế giới ở vào các thời điểm khác nhau, nhưng chưa có nơi nào bị thiệt hại về nhân mạng hoặc gia tăng tỉ lệ ung thư, dị dạng, đẻ non, vẹo cột sống, sẩy thai.

    Ròng rã 10 năm (1985-1994) Cơ Quan Bảo Vệ Môi Trường của Hoa Kỳ mới hoàn tất bản dự thảo 3.000 trang liên quan đến tác động của Dioxins. Tuy nhiên, cho tới nay giới khoa học gia vẫn chưa đồng ý về tác hại của Dioxin lên con người như được thí nghiệm trên súc vật.

    LÔI DIOXIN RA TÒA

    Không đòi được Hoa Kỳ bồi thường trong Hội nghị 2002, Việt Nam cùng đồng minh nước ngoài liên tục tổ chức nhiều cuộc Hội nghị quốc tế nhằm chuẩn bị lôi Dioxin ra trước công lý. Các cuộc Hội nghị với nhiều chủ đề khác nhau, nhưng chỉ nhấn mạnh đến “chất độc màu da cam” của quân Mỹ.

    Hội Nạn Nhân Chất Độc Da Cam được thành lập ngày 10-01-04 đã thay mặt 27 nạn nhân “chất độc da cam” đệ đơn kiện 37 công ty hóa chất ở Mỹ tại Tòa án Liên bang Brooklyn (Hoa Kỳ).

    Một “nạn nhân” có tên trong đơn kiện, Bác sĩ Dương Quỳnh Hoa nói với thân hữu ở Ba Lê “ghi tên vào hồ sơ kiện không có sự đồng ý của tôi cũng như hoàn toàn không được thông báo”.

    Chánh án Jack B. Weinstein bác đơn vào ngày 10-03-05 với phần kết luận “Sự khiếu tố của các nguyên đơn là vô căn cứ chiếu theo luật bản xứ của bất cứ quốc gia hay tiểu bang nào hoặc dạng thức nào của luật quốc tế. Nội vụ bị bác bỏ. Không bên nào được bồi thường án phí và thù lao cho luật sư”.

    Việt Nam khiếu tố lên Tòa Phúc thẩm Lưu động số 2 tại Manhattan (Nữu Ước). Vào ngày 22-02-08, với 3 thẩm phán, Tòa đã tuyên bố không thụ lý vụ đơn của 27 nạn nhân chất độc da cam Việt Nam kiện 37 Công ty hóa chất tại Hoa Kỳ mà đồng tình với phán quyết năm 2005 của Tòa án Liên bang Brooklyn, Nữu Ước.

    Các luật sư “khuyên” Việt Nam tiếp tục kháng cáo lên Tối cao Pháp viện Hoa Kỳ với thủ tục nhiêu khê hơn và thời gian chưa xác định, nhưng xác suất thành công vô cùng mong manh.

    Trong khi đó, các nạn nhân ung thư bị Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam buộc đóng vai “Chí Phèo” cũng chẳng được dư luận rộng rãi trên thế giới quan tâm hoặc ủng hộ vì Tòa án ở Hoa Kỳ xử theo luật, không sợ áp lực của dư luận.

    Chính phủ Hà Nội bây giờ xin Hoa Kỳ tiếp tục dự án theo Hội nghị 2002, nhưng được cho biết đã quá hạn.

    Tập đoàn Hà Nội hãy tĩnh cơn mộng du để khiêm tốn học hỏi kinh nghiệm của ngoại quốc trong việc đối phó với tác hại của hóa chất độc trong môi trường chung sống với Dioxin số ít cũng như số nhiều. Từ đó, mới thu hút sự trợ giúp kỹ thuật và tài chính của quốc tế hầu giải quyết vấn nạn Dioxin tại Việt Nam.

  52. Những người nói bằng ngôn ngữ, viết bằng ngôn ngữ Việt Nam tại sao lại phủ nhận giá trị bản thân mình. tại sao lại hạ thấp dân tộc mình bằng cách bôi nhọ những gì tốt đẹp của dân tộc. Tại sao lại phủ nhận sự hy sinh của những người mang lại tự do cho dân tộc. Vì tiền và quyền lợi mà bán rẻ tự do và nhân phẩm của mình liệu có đáng không? bao nhiêu người bị chất độc da cam có cuộc sống khó khăn là vì đâu? Ai mang đến những tội ác này?

  53. Đừng nói là phản động, hễ có cái gì mà Đảng ta ko giải thích được thì cứ thế mà phán “phản động” cho nó xong, rồi mọi người lại hùa theo, dần dần như thế thành phản xạ, cứ gặp cái gì liên quan đến CSVN là phán ngay, đâu cần sem sét gì

  54. Sự đóng góp quan trọng về nhiều mặt của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong các lĩnh vực văn hóa, giáo dục và nghệ thuật là kết tinh của truyền thống văn hóa hàng ngàn năm của nhân dân Việt Nam và những tư tưởng của Người là hiện thân của những khát vọng của các dân tộc trong việc khẳng định bản sắc dân tộc của mình và thúc đẩy sự hiểu biết lẫn nhau…”.

    Với tinh thần đó, Hồ Chí Minh không chỉ thuộc về dân tộc Việt Nam, mà còn là của nhân loại. Tổ chức đại diện của trên một trăm quốc gia với các chế độ chính trị, xã hội khác nhau và những nền văn hóa khác nhau đã thừa nhận hai vĩ nhân trong Hồ Chí Minh: Vừa là anh hùng giải phóng dân tộc, vừa là danh nhân văn hóa. Mỗi dân tộc, mỗi nền văn hóa dân tộc có thể có nhiều danh nhân văn hóa, song rất hiếm người cùng lúc đạt hai danh hiệu như vậy.

    Người đi xa nhưng đã để lại không chỉ cho nhân dân Việt Nam, còn để lại cho nhân loại một di sản tư tưởng văn hoá vô giá, có giá trị bền vững. Vậy mà thật nực cười, gần đây trên trang web của hải ngoại tung ra tài liệu, cái gọi là: Sự thật về Hồ Chí Minh với luận điệu tuyên truyền, xuyên tạc cũ rích của Nguyễn Hữu Lễ, Trần Quốc Bảo và đồng bọn. “Xem mặt mà bắt hình dong”, nhìn vào bản thân của Linh mục Nguyễn Hữu Lễ và danh sách những tài liệu tham khảo của các vị: Cao Thế Dung, Minh Võ, Trần Gia Phụng, Lê Hữu Mục…những nhân vật được phỏng vấn như: Nguyễn Ngọc Bích, Nguyễn Minh Cần, Bùi Diễm, Vũ Ngự Chiêu, Vũ Thư Hiên, Bùi Tín, Dương Thu Hương, Lê Hữu Mục…toàn là những kẻ ôm gót chân ngoại bang, đào tẩu ra nước ngoài, chúng ta cũng có thể đoán được nội dung và giá trị những “sự thật” này như thế nào.

    Những “nhà nghiên cứu”, “nhà biên khảo” gốc Việt Nam ngồi ở Mỹ, ở Pháp, Canada… không hiểu hoặc cố tình không hiểu về lịch sử Việt Nam, về thân thế và sự nghiệp của Chủ tịch Hồ Chí Minh, vẫn nuôi trong lòng tâm địa đen tối của mối hận thù cố tình bịa đặt, vu khống trắng trợn, xúc phạm Bác Hồ, xúc phạm đến tình cảm thiêng liêng của dân tộc Việt Nam và những người yêu mến ngưỡng mộ Hồ Chí Minh trên thế giới.

    Bằng một thứ xảo thuật chính trị, “lập lờ đánh lận con đen” trong khi đưa ra các tư liệu, tài liệu, kết quả chỉ là một sản phẩm rẻ tiền, thiếu lương thiện trí thức, một chiều, với ý đồ toan tính phá bỏ những điều mà họ cho là “huyền thoại về Hồ Chí Minh”, làm ngơ trước một sự thật Hồ Chí Minh tìm ra con đường cứu nước cho dân tộc Việt Nam, mang lại độc lập, thống nhất và hoà bình cho Việt Nam; Người đã hiến dâng trọn đời mình cho sự nghiệp cách mạng Việt Nam để có được giang sơn như hôm nay.

    Cố tình bóp méo sự thật, dẫn những thông tin xuyên tạc kiểu “vỉa hè”, vụn vặt để đánh phá một thần tượng là điều hoang tưởng, chỉ ở những người có tâm địa đen tối, bịp bợm, hòng đổi trắng thay đen.

    Tự mệnh danh là những nhà nghiên cứu lịch sử, những người làm phim đã dựng nên những màn kịch vụng về, dựa trên những thông tin sai lầm đưa ra mấy vấn đề xuyên tạc, bịa đặt về cuộc đời, sự nghiệp vĩ đại, về tư tưởng và tấm gương đạo đức cao đẹp của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Những tác giả bộ phim này đã không sạch nước cản trong khi làm phim khoa học lịch sử, từ việc xử lý tài liệu, ghép nối hình ảnh một cách thô thiển đến những lời bình, lời trả lời phỏng vấn và đưa ra những thông tin vặt vểnh, nhằm bóp méo sự thật Chủ tịch Hồ Chí Minh.
    Mục đích là tìm cách xuyên tạc, lợi dụng kiếm tiền, nên khi xem dù chỉ một em học sinh Tiểu học cũng dễ dàng nhận thấy những “lổ hở” trong bộ phim kiểu “mỳ ăn liền” này.

    Xin dẫn ra một số chỗ: Ghi tên ảnh và lời thuyết minh về Đại Tướng Võ Nguyên Giáp nhưng hình ảnh là của Đại tướng Văn Tiến Dũng; phỏng vấn nhà văn Trần Mạnh Hảo thì hình ảnh lại là khuôn mặt nhà thơ Hoàng Trần Cương đã biến dạng; những chú thích ngớ ngẩn như đoạn thuyết minh Chính phủ Liên hiệp năm 1946, nhưng trên ảnh là năm 1945; cải cách Ruộng đất ở Việt Nam được thực hiện bắt đầu vào năm 1953 thì gán lên màn hình đó là năm 1951.

    Rồi ông Vũ Ngự Chiêu ăn nói càn rở rằng “Nguyễn Thị Minh Khai là vợ Võ Nguyên Giáp”, trong khi đó vợ Đại tướng Võ Nguyên Giáp là bà Nguyễn Thị Quang Thái em ruột của Nguyễn Thị Minh Khai. Dẫn lời phỏng vấn, ông Trương Nhân Tuấn nói lại lời người khác rằng: “Trước khi ông Hồ Chí Minh mất thì có ước muốn nghe một bài hát Trung Quốc và một cô y tá Trung Quốc đã hát bài hát đó cho Hồ Chí Minh nghe. Nghe xong thì ông Hồ Chí Minh thiếp đi và không bao giờ tỉnh lại nữa”.

    Tục ngữ Việt nam có câu: “Biết thì thưa thốt, không biết thì dựa cột mà nghe”, những ngày Chủ tịch Hồ Chí Minh sắp lâm chung, Viện Quân y 108 đã cử một tổ cán bộ đặc biệt chăm sóc Bác, trong đó có cô Ngô Thị Oanh – y tá Viện Quân y 108, sinh năm 1949, quê ở xã Liên Châu, huyện Yên Lạc, tỉnh Vĩnh Phúc đã hát khúc dân ca quan họ Bắc Ninh: “Người ơi, người ở đừng về” ru Bác Hồ vào giấc ngủ vĩnh hằng. Hiện nay, chị Nguyễn Thị Oanh đang làm việc tại Bệnh viện tư nhân Tràng An, đường Tôn Đức Thắng, Đống Đa, Hà Nội…

    Nhưng sự thật là họ đã lầm. Những ảo tưởng đầy tham vọng đó đã không lừa được ai. Sự thật Hồ Chí Minh là đã sống một cuộc đời oanh liệt, đầy gian khổ hy sinh, vô cùng cao thượng và phong phú, vô cùng trong sáng và đẹp đẽ. Người là hiện thân của lòng nhân ái, vị tha, khoan dung, nhân hậu, của “muôn vàn tình thân yêu” để lại cho muôn đời con cháu. Người là bậc đại trí, đại nhân, đại dũng nhưng lại vô cùng khiêm tốn, giản dị, càng vĩ đại vì giản dị.

    Sinh thời Hồ Chí Minh chưa bao giờ đề cao mình. Người coi việc phải gánh chức Chủ tịch cũng như việc “người lính vâng mệnh lệnh quốc dân ra mật trận”. Người luôn sống giản dị như một bậc túc nho nơi thôn dã, hoà đồng, gần gũi với nhân dân và không chấp nhận bất cứ một đặc ân, đặc quyền, đặc lợi gì cho riêng mình, không ham danh lợi, chức vụ, tiền tài. Hồ Chí Minh không có của cải, tài sản riêng và trên ngực không một tấm Huân chương, “Một đời thanh bạch chẳng vàng son”.

    Suốt cuộc đời Người sống trong sạch, vì dân, vì nước, vì con người, không gợn chút riêng tư, Người ra đi chỉ để lại một bản Di chúc bất hũ. Con người ta ai cũng có ham muốn, nhưng ở Hồ Chí Minh “Chỉ có một sự ham muốn, ham muốn tột bậc, là làm sao cho nước ta được hoàn toàn độc lập, dân ta được hoàn toàn tự do, đồng bào ai cũng có cơm ăn áo mặc, ai cũng được học hành”. Nhân dân Việt Nam vô cùng kính phục và yêu mến Hồ Chí Minh vì suốt cả đời mình, Người đã đấu tranh không mệt mỏi để thực hiện những điều Người đã nói trên.

    Hồ Chí Minh là nhà văn hoá kiệt xuất còn bởi tư cách là chủ thể sáng tạo văn hoá. Từ vốn sống thực tế và sự hiểu biết phong phú về văn hoá trong quá trình học tập nghiên cứu, đặc biệt khi đến với chủ nghĩa Mác – Lênin, tinh hoa của văn hoá nhân loại, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã sáng tạo ra một nền văn hoá mới, nền văn hoá cách mạng trong lịch sử dân tộc. Người đã là tác giả của hàng trăm bài báo, bài thơ, tranh đả kích, mà trong đó có tập thơ chữ Hán nổi tiếng “ Ngục trung nhật ký”.

    Người đã sử dụng ngòi bút để thức tỉnh, kêu gọi những con người đang bị đè nén, bị bóc lột đứng lên đấu tranh giành lấy quyền con người với đúng nghĩa của nó. Trong chiến tranh ác liệt, tin Chủ tịch Hồ Chí Minh từ trần được loan truyền khắp địa cầu, Đảng và Nhà nước ta nhận được tới hơn hai mươi hai ngàn (22.000) bức điện tín từ các thủ đô lớn của 121 quốc gia trên thế giới, hàng chục đoàn khách quốc tế đến kính cẩn viếng, bày tỏ tình cảm, ca ngợi Người và chia buồn với nhân dân Việt Nam.

    Nhiều quốc gia đã tổ chức buổi lễ truy điệu và hết lời ca tụng Chủ tịch Hồ Chí Minh. Rằng, Người là một người lãnh đạo xuất sắc của phong trào giải phóng dân tộc và cộng sản quốc tế, một người bảo vệ những người bị áp bức…là tinh túy của “dân tộc và là hiện thân của lòng khát vọng tự do, của sự tranh đấu bền bỉ.”; “Ông có một tấm lòng bao la như vũ trụ và có một tình thương vô bờ bến đối với các trẻ em”. “Ông là gương mẫu về đức tính giản dị và thẳng thắn trong tất cả mọi phạm vi.”…

    Đúng như bạn bè quốc tế đã đánh giá: “Giữa lúc vàng thau lẫn lộn, đồng chí Hồ Chí Minh trở thành trung tâm và tượng trưng cho cuộc xung đột lớn lao đang diễn ra giữa cái cũ và cái mới, giữa chủ nghĩa đế quốc và chủ nghĩa xã hội. Sở dĩ bản anh hùng ca Việt Nam thu hút được lòng yêu mến của hàng trăm triệu người trên thế giới, chính là vì nó được tiêu biểu bởi nhân vật phi thường đó”.

    Trong hội thảo quốc tế, kỷ niệm lần thứ 100 ngày sinh của Hồ Chí Minh tại Hà Nội, Tổng giám đốc UNESCO đã khẳng định: “Chỉ có ít nhân vật trong lịch sử trở thành một bộ phận của huyền thoại ngay khi còn sống và rõ ràng Hồ Chí Minh là một trong số đó. Người sẽ được ghi nhớ không phải chỉ là người giải phóng cho Tổ quốc và nhân dân bị đô hộ, mà còn là một nhà hiền triết hiện đại đã mang lại viễn cảnh và hy vọng mới cho những người đấu tranh không khoan nhượng, để loại bỏ bất công, bất bình đẳng khỏi trái đất này”.

    Vậy như một hệ luận, ai là những người không muốn ghi công và nhớ ơn đó của Chủ tịch Hồ Chí Minh và ngụy biện tìm cách phỉ báng. Câu trả lời là những kẻ từng làm tay sai cho giặc xâm lược Pháp (và Mỹ), những kẻ từng được đặc quyền đặc lợi dưới chế độ bảo hộ Pháp (và Mỹ), những kẻ mà đến giờ này vẫn đòi “chuyển lửa về quê hương”, phá hoại thành quả cách mạng mà bao thế hệ người Việt Nam đổ máu hy sinh, tạo dựng. Những luận điệu xuyên tạc bỉ ổi đó nhất định bị dư luận vạch mặt, chỉ tên để bảo vệ sự thật Hồ Chí Minh, để sự thật đó sẽ mãi mãi sáng ngời niềm tin và lòng tôn kính về Người trong trái tim triệu triệu người dân người Việt Nam và bạn bè trên khắp thế giới.

    Bàn tay không che nổi ánh mặt trời, Chủ tịch Hồ Chí Minh mãi là ánh hào quang rực sáng. Sự nghiệp, tư tưởng, đạo đức của Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại là tài sản tinh thần vô giá của các thế hệ người Việt Nam, luôn tỏa sáng soi đường cho cách mạng Việt Nam tiến lên giành những thắng lợi vẻ vang và đang vững bước trên con đường đổi mới vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh, sự thật đó không có một thế lực nào cản bước được.

    • Hồ Chí Minh là một tên đại bịp của thế kỷ 20 làm điêu đứng nhân dân Việt Nam, vậy mà vẫn có người mắc lỡm và tôn sùng. Bớ ngọc dung! Sao mà ngu muội thế! Vậy thì cuộc cải cách ruộng đất ở miền Bắc sau năm 1954 giết bao nhiêu người vô tội thì tội lỗi do ai? Có phải do tên Hồ Chí Minh sau hắn lại đùn tội cho Trường Chinh. Còn biết bao thanh niên miền Bắc bị đưa vào miền nam dưới khẩu hiệu: “sinh bắc tử nam” kết cuộc được cái gì? Còn hắn mà là nhà văn hóa? Ô là lá! Một thằng thanh niên mới 20 tuổi đi làm bồi tãu để trốn ra ngoại quốc. Ra đến nơi thì học hành lem nhem thì là nhà văn hóa khỉ khô gì? Tỉnh mơ đi!

  55. tại sao 1 trang web gần như phản động như thế này mà vẫn còn tồn tại vậy. dù là ai thì cũng có những sai lầm, sao mọi người lại đi phán xét người khác như vậy chứ, nhất là đối với 1 vị lãnh tụ đáng kính của nhân dân Việt Nam chứ

  56. Tất cả chứng minh rằng những gì Cộng Sản viết và tuyên truyền về tên Hồ Chí Minh đều gian dối, từ ngày sinh đến ngày tử, cuộc đời của ông là một chuỗi dài đi từ xảo trá đến gian ác:

    - HCM tự ý viết bài viết sách ca ngợi chính mình nhưng lấy tên giả là người khác.
    - HCM vô đạo: lấy vợ bỏ vợ, lấy tình nhân giết tình nhân, sinh con bỏ chợ.
    - HCM gian thâm ác độc: ra lệnh giết hàng trăm ngàn người trong cuộc cải cách ruộng đất rồi đổ lỗi cho địa phương lầm lẫn.
    - HCM phản trắc: hô hào liên minh với các lãnh tụ Quốc Gia chống thực dân Pháp để rồi giết sạch những nhà yêu nước.

    Bọn Cộng Sản Hà Nội thần thánh hóa tên Hồ Chí Minh một cách ngông cuồng, tôn thờ cá nhân, bám lấy cái tên, cái xác chết của ông để mà tồn tại.

    Sau khi Liên-Xô và chủ nghĩa Cộng Sản sụp đổ. Hà Nội đổi hướng tuyên truyền dựng đứng “Tư Tưởng Hồ Chí Minh” vịn vào đó mà cai trị bằng dùi cui, súng đạn và công an.

  57. Thang VO DANH may vua la thang hen vua la thang mu vua la thang ngu . Cu nhin vao XHVN bay gio thi biet rang dung hay sai co cong hay co toi. LS se phan xet cong bang

  58. Ác hồ chí minh cả 1 đời vì dâm vì tặc ,vì sự nghiệp làm tay sai cs quốc tế để hại dân hại nước ,đã để lại 1 lủ cs khốn nạn và 1 lủ chó săn ngu dốt này lên đây sủa bậy .

  59. Hoi nhung nguoi dan mang dong mau Viet, tu nho chung ta da duoc nghe, duoc biet, duoc hoc ve Bac, noi den Bac chung ta luon nghi ve mot hinh tuong thieng lieng cao dep. “Dan ta phai biet su ta, cho tuong goc tich nuoc nha Viet Nam”. Nhu vay tai sao lich su tram nam ong cha ta deu day ta ton kinh Bac Ho – vi lanh tu vi dai cua dan toc Viet Nam, con chung ta the he tre sau nay lai co the cho rang Bac la mot nguoi khong dang de ta tran trong. Xin khang dinh do la mot suy nghi sai lam. Cac ban oi, dung de loi le, giong dieu xuyen tac cua nhung to chuc phan dong nham chia re dan toc ta, nhan dan ta. Dung de bon chung da lay hinh anh ma chung ta ton kinh nhat de danh bai chung ta. Chung ta hay tin tuong vao lich su ngan nam rang “Viet Nam dep nhat co ten Bac Ho”.

  60. Tui thì không nói dài dòng nhưng tui biết nuớc nào ,chế độ nào cũng có kẻ chống lại ,tất nhiên chỉ là số rất ít,số đó thuờng là hậu duệ hoặc bản thân họ có tội với đất nuớc bị xử tù ,bị thua trận nay sống lưu vong thì nuôi chí rửa hận.Số này thuờng đánh giặc mồm,chửi bới rất thô tục mạt hạng một mất một còn rất khó cải tạo!Không ăn đạp đổ không còn 1 chut luơng tâm nào với cả đồng bào .như tiến sĩ Hưng nói Thiệu tuyên bố thà hiến đất hiến đảo cho Trung cộn còn hơn để cho Việt cộng khi biết là chúng sẽ thua ,bọn tai to mặt lớn vơ vét ngân khố bỏ chạy lưu vong để lại một miền nam rỗng tuyếch trong tàn phá nặng nề với 1 triệu binh lính duới quyền cho chính quyền cách mạng phải cáng đáng.
    Tui biết chính phủ biét là chúng đang lợi dụng tự do ở nuớc sở tại gân cổ chửi đất nuớc ,tổ tiên,cầu chúa không cho VN phat triển để dân đói khổ,lạc hậu,dã tâm cầm thú là như vậy.Chúng nói cứ xuyên tạc nói xấu để bôi nhọ không cần đúng hay sai,nhưng ai có thể tin chúng nói?
    Chúng tôi tin tuỏng vào các đại biểu của các cộng đồng về nuớc họp sẽ thể hiên đuợc ý chí và lòng yêu nuớc của tuyệt đại đa số kiều bào ta đang sinh sống làm việc và học tập ở nuớc ngoài ,Số Việt gian phản động chỉ là số rất ít bấy lâu nay đang điên cuồng chống phá chế độ nhưng phải cảnh giác và kiên quyết đập tan mưu đồ của chúng từ trong trứng nuớc. Thao Giang Canada

  61. Khi bình luận về cuốn phim mới đươc công bố ở hải ngoại vào tháng 7-2009, có tựa đề “Sự thật về Hồ Chí Minh”, ông Nguyễn Trọng Phú (NTP), “một nhà nghiên cứu chính thống” (từ ngữ của ban Việt ngữ đài BBC), thuộc Học viện Chính trị – Hành chính Quốc gia Hồ Chí Minh nói: “Tôi cho rằng chủ tịch Hồ Chí Minh là con người tuyệt vời và hoàn thiện. Cho nên tất cả những điều đó là luận điệu và thủ đoạn bôi nhọ, nói xấu lãnh tụ, những người lãnh đạo lớp trước.” (Trích BBC.)

    Đây không phải là lần đầu CSVN kết án cuốn phim nầy. Ngày 5-8-2009, báo điện tử đảng CSVN đã đăng bài “Những thước phim trái sự thật, trái đạo lý”, lên án cuốn phim là xuyên tạc, bôi nhọ Hồ Chí Minh. Sau đó, bài nầy được đăng lại trên các trang mạng khác như Quân Đội Nhân Dân, Hà Nội Mới.

    Bài viết “Những thước phim trái sự thật, trái đạo lý” hoặc lời bình luận của ông NTP chỉ có tính cách chung chung, “cả vú lấp miệng em”, nói lấy được. Câu kết luận của bài báo của đảng CSVN: “Hồ Chí Minh, người con ưu tú của dân tộc Việt Nam được cả thế giới ca ngợi, ngay cả kẻ thù cũng phải kính nể, chắc không thể hao tổn một chút uy tín nào trước sự vu cáo của những người làm phim. Rất tiếc nhóm làm phim đã cố tình chối bỏ chân lý đó để tung lên mạng những thước phim vừa trái sự thật, vừa trái đạo lý thông thường với một vĩ nhân.” (Trích RFA ngày 11-8-2009.)

    Bình luận của ông NTP lập lại ý kiến của bài viết trên trang báo điện tử của đảng CSVN. Một vị giáo sư học rộng biết nhiều, giảng dạy tại Học viện Chính trị – Hành chính Quốc gia Hồ Chí Minh như ông NTP, hẳn phải biết rằng trong việc ghi chép lịch sử, có một điều kiện căn bản tối quan trọng: đó là viết lại các sự kiện lịch sử phải dựa trên những tài liệu xác thực, đáng tin cậy.

    Đảng CSVN và ông NTP cho rằng những người làm phim đã vu cáo lãnh tụ của đảng CSVN, có nghĩa là những sự kiện lịch sử trong cuốn phim không xác thực, không khả tín, không có thật. Đảng CSVN không thể nói chung chung cho qua chuyện, vu khống người khác, mà đảng CSVN phải khảo chứng những tài liệu do cuốn phim “Sự thật về Hồ Chí Minh” đưa ra có đúng hay không? Sau khi khảo chứng, cẩn án tài liệu, đảng CSVN mới có thể kết luận là cuốn phim đó đúng hay sai?

    Ví dụ thứ nhất: Đảng CSVN viết rằng lúc trẻ chủ tịch Hồ Chí Minh ra đi tìm đường cứu nước. Phim “Sự thật về Hồ Chí Minh” đưa ra hai lá đơn do Nguyễn Tất Thành tức Hồ Chí Minh viết tại Marseille (Pháp) ngày 15-9-1911 để xin vào học trường Thuộc Địa Paris với mục đích ra làm quan cho thực dân Pháp, và từ đó cuốn phim kết luận rằng Hồ Chí Minh ra đi vì sinh kế gia đình, nói nôm na là ra đi cầu thực hay kiếm ăn, chứ chẳng phải ra đi tìm đường cứu nước. Các tác giả cuốn phim đã đưa ra hình ảnh hai lá đơn của Nguyễn Tất Thành hiện còn lưu giữ trong các thư khố Pháp. Như thế các tác giả cuốn phim dựa trên tài liệu có thật của thư khố Pháp, chứ họ không bịa đặt tài liệu để vu khống.

    Nếu đảng CSVN cho rằng Nguyễn Tất Thành tức Hồ Chí Minh thật sự ra đi tìm đường cứu nước, không có việc xin vào học trường Thuộc Địa Paris, và những tài liệu trong thư khố Pháp là những tài liệu giả tạo, bịa đặt để vu khống Hồ Chí Minh, thì đảng CSVN nên tìm đến tận gốc, tức tìm trong các thư khố Pháp, nơi lưu giữ hai lá đơn nầy, xem hai lá đơn nầy có thật hay không? Nếu hai lá đơn viết tay của Nguyễn Tất Thành, tức Hồ Chí Minh, hiện nằm trong các thư khố Pháp là hai lá đơn giả, thì đảng CSVN nên kiện các thư khố Pháp đã dám bịa đặt và giả mạo hai lá đơn nầy, chứ chủ tịch Hồ Chí Minh “muôn vàn kính yêu” của đảng CSVN đời nào viết đơn xin đi học trường làm quan cho Tây thực dân? Còn nếu đảng CSVN không dám vào thư khố Pháp để nghiên cứu, không dám kiện thư khố Pháp về tội giả mạo hai lá đơn của Hồ Chí Minh, thì đảng CSVN phải can đảm nhận lấy sự thật lịch sử, đừng có vu khống những tác giả cuốn phim. Ngày nay, mạng lưới thông tin toàn cầu rất nhạy bén, kiểu vu khống của đảng CSVN không còn hiệu nghiệm nữa.

    Một ví dụ khác: Theo đảng CS, chủ tịch Hồ Chí Minh suốt đời sống độc thân để phục vụ cách mạng. Cuốn phim “Sự thật về Hồ Chí Minh” đã đưa tài liệu cho thấy Hồ Chí Minh nhiều vợ. Những tài liệu nầy nằm trong thư khố Pháp, sách vở Trung Hoa và các nhân chứng sống như Vũ Thư Hiên, Nguyễn Minh Cần. Theo đảng CSVN, các nhân chứng sống nầy không đáng tin cậy. Giả thiết, chỉ xin giả thiết mà thôi, nhận xét của đảng CSVN đúng, thì đảng CSVN và ông NTP nghĩ sao về tài liệu rất đầy đủ do Hoàng Tranh (Huang Zheng) đưa ra về Tăng Tuyết Minh, một người vợ Tàu của Hồ Chí Minh. Hoàng Tranh là một tác giả Trung cộng, giáo sư đại học Quảng Tây, hiện đang còn sống ở Trung Quốc. Nếu Hoàng Tranh viết sai, vu khống, thì đảng CSVN nên kiện với đảng Cộng Sản Trung Quốc, yêu cầu đảng CSTQ ít nhất phải đem Hoàng Tranh ra đánh 100 trượng, giống như triều Nguyễn phạt roi Nguyễn Sinh Sắc, phụ thân của Nguyễn Tất Thành tức Hồ Chí Minh. Nếu không dám lên tiếng với Hoàng Tranh, người phát hiện đám cưới vào tháng 10-1926 của Lý Thụy với Tăng Tuyết Minh tại Quảng Châu, thì làm sao đảng CSVN có thể nói rằng những người làm phim đã vu khống Hồ Chí Minh?

    Ví dụ thứ ba: Đưa ra những vấn đề dựa trên tài liệu nước ngoài sợ khó kiểm chứng. Bây giờ xin sử dụng tài liệu trong nước, trong tầm tay của đảng CSVN và của giáo sư NTP. Đó là các tác giả Trần Dân Tiên và T. Lan, viết hai quyển sách ca tụng Hồ Chí Minh. Hẳn lãnh đạo đảng CSVN và giáo sư NTP dư biết Trần Dân Tiên và T.Lan chính là Hồ Chí Minh. Thế thì đảng CSVN và giáo sư NTP nghĩ thế nào về tư cách của một người tự viết sách ca tụng mình, trong đó có những câu như: “Một người như Hồ Chủ tịch của chúng ta, với đức khiêm tốn nhường ấy và đương lúc bề bộn bao nhiêu công việc, làm sao có thể kể cho tôi nghe bình sinh của người được.”(Trần Dân Tiên, Những mẩu chuyện về đời hoạt động của Hồ Chủ tịch, Hà Nội: Nxb. Sự Thật, tr. 9.) Trong một việc nhỏ nhặt như vậy mà Hồ Chí Minh còn bịp mọi người, huống gì là chuyện quốc gia đại sự. Điều nầy chẳng ai vu cáo Hồ Chí Minh cả, chỉ Hồ Chí Minh tự tố cáo mình mà thôi.

    Trên đây chỉ đưa ra ba ví dụ điển hình. Đảng CSVN thử kiện các thư khố Pháp hay tác giả HoàngTranh về hai vụ trên đây, thì sẽ biết ngay là cuốn phim “Sự thật về Hồ Chí Minh” có vu khống hay không? Những bài viết hay nói chuyện đại loại như ông NTP chỉ làm cho người Việt Nam thấy thêm bản chất gian ngoa của CSVN mà thôi. Ngày nay, không còn ai tin vào đảng CSVN nữa. Đảng CSVN chỉ còn cai trị bằng bạo lực cộng sản. Bắt bớ, giam cầm, tù đày những người bất đồng chánh kiến, hành hạ những người tranh đấu cho dân chủ để duy trì quyền lực.

    Tuy nhiên bạo lực như Hitler hay CS Liên Xô, không thể tồn tại lâu dài, rồi cũng sụp đổ. Cộng Sản Việt Nam không thể ra ngoài quy luật đó.

    TRẦN GIA PHỤNG

    (Toronto, 3-9-2009)

  62. “Chủ nghĩa cộng sản là một mưu đồ quốc tế, nó chỉ viện đến chủ nghĩa quốc gia-tổ quốc-quê hương-đồng bào-dân tộc-nhân dân-giải phóng-dân chủ-tự do… như những thứ công cụ để tranh đoạt quyền lực, cũng như để lừa gạt dân chúng.

    Một khi đã có được quyền lực, chủ nghĩa cộng sản sẽ nỗ lực xoá sạch từng quốc gia, triệt phá nền văn hoá dân tộc và nô dịch nhân dân của quốc gia đó.”

    Alexandr Isayevich Solzhenitsyn – Nobel Prize for Literature in 1970

  63. mot nguoi lam ma ca to Quoc phai chiu thang Le Kha Phiu la thang ban nuoc, thang hen ma

  64. QUỶ HIỆN HÌNH

    Đất nước trôi vào thời mạt pháp
    Đời thảm từ khi quỷ hiện hình
    Một thằng ăn cắp xưng là Bác
    Chí ngu mà mạo nhận Chí Minh

    Tất Thành cù bơ trốn qua Pháp
    Xin học trường Tây để kiếm bạc
    Bị sút ra biên, bợ đít Nga
    Học nghề mật vụ, nghề gian ác

    Nguyễn, về Thái Lan rồi Trung Quốc
    Tên mới bây giờ: Nguyễn Ái Quốc
    Chỉ điểm cho Tây diệt cụ Phan
    Quốc tìm về nước để… bán nước

    Nguyễn lại đổi tên: Hồ Chí Minh
    Ló mồi Cộng Sản, đuôi chằn tinh
    Cướp công kháng chiến nhe nanh vuốt
    Đời thảm từ khi quỷ hiện hình

    Tội phạm lừng danh thiên cổ ấy
    Bao năm phá nát quê hương mình
    Một bầy thi nô toàn mất dạy
    Ra sức hoan hô Bác tận tình

    Bác chiếm miền Nam bằng máu lạnh
    Bằng trò bịp bợm, thói lưu manh
    Mồ oan trải suốt Trường Sơn đấy
    Mấy triệu dân ta chết đoạn đành

    Bác ngỏm cù đèo chưa kịp thấy
    Ba miền đất nước bỗng điêu linh
    Con tàu thống nhất te tua chạy
    Trên cánh đồng xương, trên máu tanh

    Kế thừa di chúc tên vô lại
    Một lũ già ngu toàn báo hại
    Rút ruột quê hương thêm xác xơ
    Đói nghèo ở cuối thang nhân loại

    Mác-Xít đã dưới mồ lãng quên
    Chúng còn thờ cúng như tổ tiên
    Vua quan Cộng Sản hơn phong thực
    Đỉnh ác, đỉnh ngu, tột đỉnh hèn

    Đời thảm từ khi quỷ hiện hình
    Nghĩ thương cho quê hương mình
    Xương tàn há gửi trong mồ tuyết
    Quốc tổ bao giờ mới hiển linh?

    MB/TKG/10
    About Me
    My Photo

    CoVang

    View my complete profile
    Cám ơn Bạn!
    web counter

  65. Nhờ có Đảng nước ta mới có bán nước.

    Ðây là công văn trong tàng thư của Bộ Ngoại Giao Cộng Hoà Nhân Dân Trung Quốc về việc Lê Khả Phiêu ký nhượng lãnh thổ của Vietnam cho Trung Quốc vào ngày 31-12-1999 tại Hanoi Ministry of Foreign Affairs of the People’s Republic of China

    General Secretary Le Kha Phieu Met with Foreign Minister Tang JiaxuanOn December 31, 1999, General Secretary of the Communist Party of Vietnam Le Kha Phieu met with Chinese Foreign Minister Tang Jiaxuan in Hanoi, during which Foreign Minster Tang conveyed the cordial greetings from President Jiang Zemin. He indicated that we had just experienced an important moment in the history of the Sino-Vietnamese relations.

    The Treaty of Land Border between China and Vietnam had been officially signed at long last after 20-plus years of negotiations. This was a major event that merited celebration in the bilateral relations. He attributed the settlement of land border disputes, first and foremost, to the foresight and able guidance of the leaders of the two countries, the General Secretaries of the Communist Parties of the two countries in particular who pointed out the direction for and gave impetus to the negotiations.

    Your contributions were irreplaceable. The official signing of the Treaty of Land Border symbolized that we would bring peace, amity and stability along the land border between the two countries into the 21st century. This would not only benefit the two peoples and the coming generations, but also contribute to the advancement of the relations between the two countries and two parties, the bilateral cooperation in all dimensions and peace and stability of the region at large.

    The achievements of the land border negotiations had been hard-won. This would provide an example for the settlement of the questions left over from history between the two countries. At the same time, it also demonstrated to the world that China and Vietnam were capable of resolving all the outstanding questions left over from history through friendly consultations.

    General Secretary Le Kha Phieu said that the signing of the Treaty of Land Border was of great significance to the friendly relations and cooperation of the two countries built on the basis of mutual-trust and was the result of the painstaking efforts of both sides. It marked a step forward in the good-neighborly, friendly relations of solidarity of the two countries and would exert positive impact to peace and stability of the region.

    Foreign Minister Tang Jiaxuan said that the relations between the two countries and the two parties were enjoying sound momentum of development. Mutual trust was enhanced and solidarity stepped up through the frequent contacts of state and party leaders, which played a guiding role in the furtherance of the relations between the two countries and two parties. He went on to say that mankind would embark on a new millennium in some 10 hours’ time. We should value all the more the peaceful environment, which did not come easily and treasure the traditional friendship between the two countries, the two parties and the two peoples. We had every confidence that the 21st century would see even better Sino-Vietnamese relations.

    General Secretary Le Kha Phieu indicated that one of the highlights of Vietnam-China relations was that the leaders of the two countries reached an agreement on putting a complete end to the past and building a future featuring friendship and mutual trust. It was the consistent policy of Vietnam to develop good-neighborly and friendly cooperation with China. The friendship between Vietnam and China would enjoy further development and would be carried on generation after generation. The spirit of cooperation manifested during the land border negotiations was bound to give impetus to the development of bilateral relations in all the fields. Meanwhile, we would move up the settlement of other outstanding questions left over from history between the two countries by drawing on the experience of this round of negotiations.

    The two sides also exchanged views on the current regional and international situations. General Secretary Le Kha Phieu thought highly of the independent foreign policy of peace pursued by China and expressed appreciation to China that attached importance to the development of good-neighborly and friendly relations with its surrounding countries. He maintained that Vietnam was not in favor of a uni-polar world, and the world should be characterized by variety. General Secretary Le Kha Phieu asked Foreign Minister Tang Jiaxuan to convey his best wishes to General Secretary Jiang Zemin and other Chinese state and party leaders.

    Prior to this, Foreign Minister Tang Jiaxuan met with President Tran Duc Luong of Vietnam. Tang conveyed the warm regards from President Jiang Zemin, to which President Tran Duc Luong expressed his gratitude. He also expressed his belief that the Chinese people would achieve greater success in the new century under the leadership of President Jiang Zemin.Ministry of Foreign Affairs of the People’s Republic of China

    TÀI LIỆU TÌNH BÁO VỀ VỤ CSVN BÁN NƯỚC
    (Vài sự kiện dẫn đến bán nước của csvn)

    Sau vụ CSVN bán nước cho Trung Cộng, theo lời ông Hoàng Minh Chính cho biết thì không ai biết được ai trong bộ chính trị đã ký tên trong vụ bán nước nầy . Bộ chính trị CSVN đã dấu nhẹm chuyện nầy và BÍ MẬT ĐÃ được BẬT MÍ và sau đây là những diễn biến về cuộc BÁN NƯỚC NHƯ SAU:

    1) Lê Khả Phiêu bị Trung Quốc gài Mỹ Nhân Kế lấy cô Trương Mỹ Vân (Cheng Mei Wang) lúc Lê Khả Phiêu sang thăm Trung Quốc năm 1988 và sanh được một bé gái. LKP không đem con về vì sợ tai tiếng đưa đến nhiều lần Trung Cộng gửi văn thư đòi lấn vùng biển vào tháng 1 năm 1999. Đồng thời đòi đưa ra ánh sáng vụ nầy nếu LKP không hợp tác. Và buộc Lê Khả Phiêu phải hạ bút ký bản hiến biển ngày 30 tháng 12 năm 1999.

    2) Ngày 31 tháng 12 năm 1999 phái đoàn Trung Quốc cầm đầu do ông Tang Jiaxuan và tình báo TQ sang Việt Nam, họ gặp kín ông Lê Khả Phiêu bàn thêm về vấn đề hiến đất .

    3) Ngày 25 tháng 2 năm 2000, Lê Khả Phiêu phái Nguyễn Dy Niên sang Trung Quốc, ông Nguyễn Dy Niên cho biết Lê Khả Phiêu đã đồng ý việc hiến thêm đất.

    Trung Quốc nghe tin rất hoan hỉ mở tiệc chiêu đãi Nguyễn Dy Niên một cách nồng nhiệt với nhiều Cung Tầng Mỹ Nữ ở nhà khách Diao-yu-tai ăn nhậu cùng ông Ngoại Trưởng Tang Jiaxuan .

    4) Bộ Trưởng Trung Quốc Tang Jiaxuan gửi thư kín nhắn tin muốn gặp Bô. Trưởng CSVN tại ThaiLand khi ông viến thăm nước nầy. Ngày 26 tháng 7 năm 2000. Ông Nguyễn Duy Niên đáp chiếc Air Bus bay từ phi trường Nội Bài vào lúc 6 giờ 47 sáng sang ThaiLand gặp Bộ Trưởng Ngoại giao Trung Quốc tại khách sạn Shangri-La Hotel Bankok phía sau phòng Ballroom 2. Cuộc gặp rất ngắn ngủi. Tang giao cho Niên một chồng hồ sơ đòi CSVN hiến thêm đất, biển trong hồ sơ ghi rõ TQ đòi luôn 50/50 lãnh hải vùng Vịnh Bắc Việt, đòi VietNam cắt 24,000 sp Km vùng biển cho TQ. Ngày 28 tháng 7 bộ chính trị nhóm chóp bu họp kín.

    5) Sau hai tháng họp kín và bàn bạc. Bộ chính trị CSVN cử Phan Văn Khải qua gặp mặt Lý Bằng. Phan Văn Khải bay chuyến máy bay sớm nhất rời Việt Nam ngày 26 tháng 9 năm 2000 qua Bắc Kinh và được xe Limo chở từ phi trường Bắc Kinh về Quảng Trường Nhân Dân vào trưa hôm đó. Nhìn thấy mặt Khải tỏ vẻ không hài lòng và hoan mang về vụ hiến đất (Điều nầy chứng tỏ Khải không rõ chuyện nầy). Lý Bằng cho Khải biết là hai tay Lê Khả Phiêu và Giang Trạch Dân đã gặp nhau 2 lần cho vụ hiến đất rồi. Lý Bằng ôm chặc PVK và khen DCSVN làm việc rất tốt và ông cho biết là đã có Nông Đức Mạnh (lúc đó là chủ tịch Quốc Hội DCSVN) đã đi đêm sang Trung Quốc vào tháng 4 năm 2000 và Lý Bằng đã gặp lại Nông Đức Mạnh, vào tháng 8 năm 2000 ở New York Hoa Kỳ. Lý Bằng cho biết Nồng Đức Mạnh phải được cử làm Bí Thư DCSVN sau khi Lê Khả Phiêu xuống, nếu không thì sẽ bị Trung Quốc “đòi nợ cũ” . Khải trước khi về vẫn khước từ vụ hiến vùng biển VN và nói với LB là sẽ xem lại sự việc. Lý Bằng nhăn mặt bắt Khải ngồi chờ, vào gọi điện thoại, nói gì trong đó và trở lại nói là Chủ Tịch Giang Trạch Dân muốn gặp Khải tại Zhong-nai-hai và sau đó Khải được đưa đi gặp GTD và cho ông Zhu Rongji hù dọa Khải nói: Trung Quốc đã nắm trong tay Lê Khả Phiêu, Nồng Đức Mạnh …nếu không nghe lời TQ Khải sẽ bị tẩy chay và coi chừng bị “chích thuốc”. Khải cuối đầu và run sợ, sau đó đòi về. Trước khi Khải về, một lần nửa Giang Trạch Dân nhắn Khải gửi lời thăm Lê Khả Phiêu và Nồng Đức Mạnh chứ không nhắc tới tên người khác trong Quốc Hội CSVN. Khải không được khoản đải như một vị quốc khách vì tính tình bướn bỉnh vì không nghe lời đàn anh ………

    6) Vào ngày 24 tháng 12 năm 2000 , Thứ Trưởng Bộ Ngoại Giao VN Lê Công Phụng được Trần Đức Lương phái âm thầm đến Trung Quốc gặp ông tình báo của Trung Quốc là ông Hoàng Di, ông nầy là cánh tay phải của Bộ Trưởng Ngoại Giao Trung Quốc. Ông ta nói tiếng Việt rất rành. Hai bên đã gặp nhau ở một địa điểm X gần biên giới Việt, (Tỉnh Móng Cái Việt Nam). Theo bản báo cáo cho bộ chính trị CSVN, ông Lê Công Phụng Cho biết lúc đầu ông Hoàng Di vẫn khăn khăn đòi chia 50/50 với Việt Nam về vùng biển Vịnh Bắc Việt “Beibu Bay” đòi lấy luôn đảo Bạch Long Vĩ sau đó ông Phụng, được bộ chính trị dặn trước là xin lại 6% của Vùng biển gần khu vực Bạch Long Vĩ vì đã được lâu đời là của Việt Nam . Kết Qủa cuộc đi đêm Việt Nam còn lại 56% Vịnh Bắc Việt và mất đi 16,000 sq Km vùng vịnh cho Trung Quốc.

    7) Ngày 25 tháng 12 năm 2000, ông Trần Đức Lương rời Hà Nội qua Bắc Kinh gặp Giang Trạch Dân và được đưa về Thành Bắc của Quảng Trường Nhân Dân, theo tài liệu lấy được của tình báo Trung Quốc. Trần Đức Lương và Lê Khả Phiêu chính thức quyết định thông qua bản hiệp ước hiến đất bất chấp lời phản đối của Khải và nhiều người trong quốc hội. Phe thân Nga và Phe Miền Nam đã không đủ sức đấu với Lê Khả Phiêu và Trần Đức Lương. Bản hiến chương hiến đất cho Trung Quốc được chính Giang Trạch Dân và đảng CSTQ trả cho số tiền là 2 tỉ US Dollar được chuyển cho Việt Nam qua hình thức Đầu Tư. DCSTQ chỉ thị cho DCSVN sẽ phải làm gì trong kỳ đại hội đảng thứ 9 vào tháng 3 năm 2001 sắp tới. Trần Đức Lương được khoảng đải ở Thành Bắc QTNN.

    8) Ngày 26 tháng 12 năm 2000 vào lúc 2 giờ trưa, Lý Bằng được cận vệ đưa tới gặp Trần Đức Lương ở Quảng Trường Nhân Dân. Lý Bằng cho Lương biết là số tiền 2 tỉ dollar để mua 16,000 sq km vùng vịnh Beibu của Việt Nam là hợp lý. Trần Đức Lương cám ơn DCSTQ về số tiền nầy. Số tiền 2 tỉ đồng nầy được Lương đem về để làm bớt sự phẩn nộ của Khải, Kiệt và những nhân vật khác trong quốc hội CSVN. Ông Lý Bằng nhắc lại chuyện Trung Quốc đã bán vũ khí và hổ trợ cho đảng CSVN trong thời gian chiến tranh và số nợ trên Trung Quốc dùng để trao đổi mua lại vùng đất Bắc Sapa của Việt Nam, Ải Nam Quan, Bản Dốc, Cao Bằng…. Thêm lần nữa Lý Bằng chỉ gửi lời thăm Lê Khả Phiêu và Nồng Đức Mạnh !. Sau đó Lương được mời lên xe Limo và đưa về Zhong-nan-hai để gặp Zhu Rongji . Zhu Rongji không nói gì khác hơn là nhắc lại số tiền 2 tỉ đồng sẽ được giao cho Việt Nam sau khi Lương trở về nước.

    9) Ngày 26 tháng 2 năm 2001 Nguyễn Mạnh Cầm bay sang Trung Quốc để gặp ông Qian Qichen tại đảo Hải Nam. Nguyễn Mạnh Cầm cám ơn Trung Quốc đã mua vùng Vịnh Bắc Việt của Việt Nam (Beibu Bay) với giá 2 tỉ US Dollar.

    Edited by – BHL on 09/22/2005 07:08:21

    vanlang
    Average Member

    1920 Posts

    Posted – 09/22/2005 : 07:12:50 Show Profile Reply with Quote

    Cám ơn bác BHL, bác có thể cho biết cái source của bản tin tiếng Anh không ?

    vl
    Go to Top of Page

    BHL
    Advanced Member

    7060 Posts

    Posted – 09/22/2005 : 08:10:27 Show Profile Reply with Quote
    Đây là những sourch tôi đã tìm dưới tên “Treaty of Land Border between China and Vietnam”

    Yahoo search:
    h**p://w*w3.fmprc.gov.cn/eng/3808.html

    General Secretary Le Kha Phieu Met with Foreign Minister Tang Jiaxuan (31/12/1999)

    On December 31, 1999, General Secretary of the Communist Party of Vietnam Le Kha Phieu met with Chinese Foreign Minister Tang Jiaxuan in Hanoi, during which Foreign Minster Tang conveyed the cordial greetings from President Jiang Zemin. He indicated that we had just experienced an important moment in the history of the Sino-Vietnamese relations. The Treaty of Land Border between China and Vietnam had been officially signed at long last after 20-plus years of negotiations. This was a major event that merited celebration in the bilateral relations. He attributed the settlement of land border disputes, first and foremost, to the foresight and able guidance of the leaders of the two countries, the General Secretaries of the Communist Parties of the two countries in particular who pointed out the direction for and gave impetus to the negotiations. Your contributions were irreplaceable. The official signing of the Treaty of Land Border symbolized that we would bring peace, amity and stability along the land border between the two countries into the 21st century. This would not only benefit the two peoples and the coming generations, but also contribute to the advancement of the relations between the two countries and two parties, the bilateral cooperation in all dimensions and peace and stability of the region at large. The achievements of the land border negotiations had been hard-won. This would provide an example for the settlement of the questions left over from history between the two countries. At the same time, it also demonstrated to the world that China and Vietnam were capable of resolving all the outstanding questions left over from history through friendly consultations.

    General Secretary Le Kha Phieu said that the signing of the Treaty of Land Border was of great significance to the friendly relations and cooperation of the two countries built on the basis of mutual-trust and was the result of the painstaking efforts of both sides. It marked a step forward in the good-neighborly, friendly relations of solidarity of the two countries and would exert positive impact to peace and stability of the region.

    Foreign Minister Tang Jiaxuan said that the relations between the two countries and the two parties were enjoying sound momentum of development. Mutual trust was enhanced and solidarity stepped up through the frequent contacts of state and party leaders, which played a guiding role in the furtherance of the relations between the two countries and two parties. He went on to say that mankind would embark on a new millennium in some 10 hours’ time. We should value all the more the peaceful environment, which did not come easily and treasure the traditional friendship between the two countries, the two parties and the two peoples. We had every confidence that the 21st century would see even better Sino-Vietnamese relations.

    General Secretary Le Kha Phieu indicated that one of the highlights of Vietnam-China relations was that the leaders of the two countries reached an agreement on putting a complete end to the past and building a future featuring friendship and mutual trust. It was the consistent policy of Vietnam to develop good-neighborly and friendly cooperation with China. The friendship between Vietnam and China would enjoy further development and would be carried on generation after generation. The spirit of cooperation manifested during the land border negotiations was bound to give impetus to the development of bilateral relations in all the fields. Meanwhile, we would move up the settlement of other outstanding questions left over from history between the two countries by drawing on the experience of this round of negotiations.

    The two sides also exchanged views on the current regional and international situations. General Secretary Le Kha Phieu thought highly of the independent foreign policy of peace pursued by China and expressed appreciation to China that attached importance to the development of good-neighborly and friendly relations with its surrounding countries. He maintained that Vietnam was not in favor of a uni-polar world, and the world should be characterized by variety.

    General Secretary Le Kha Phieu asked Foreign Minister Tang Jiaxuan to convey his best wishes to General Secretary Jiang Zemin and other Chinese state and party leaders.

    Prior to this, Foreign Minister Tang Jiaxuan met with President Tran Duc Luong of Vietnam. Tang conveyed the warm regards from President Jiang Zemin, to which President Tran Duc Luong expressed his gratitude. He also expressed his belief that the Chinese people would achieve greater success in the new century under the leadership of President Jiang Zemin.

    Google
    h**p://w*w.fmprc.gov.cn/eng/wjb/zzjg/tyfls/tyfl/2631/t15493.htm

    MSN.com

    h**p://w*w3.fmprc.gov.cn/eng/4470.html

    h**p://w*w.chinaembassy-canada.org/eng/wjb/zzjg/tyfls/tyfl/2631/t15493.htm

    h**p://community.vietfun.com/showthread.php?s=2721afa3c031c944e7e041a9067fb88e&p=2749175#post2749175

    Go to Top of Page

    vietnam_today
    Start Member

    8 Posts

    Posted – 05/01/2006 : 14:40:17 Show Profile Reply with Quote
    Theo nhân viên chiến lược CIA Frank Snepp trong cuốn Decent interval (Cuộc tháo chạy tán loạn), trong cuộc gặp với tướng Weyand, ông Thiệu đã đề nghị Mỹ tăng viện trợ quân sự khẩn cấp để chặn bước tiến của quân giải phóng. Ngoài ra, ông Thiệu còn có thêm một yêu cầu đáng sợ: cho máy bay B-52 của quân đội Mỹ ném bom rải thảm để bảo vệ Sài Gòn.

    Sau đó, tướng Weyand bay về California tường trình với tổng thống Gerald Ford và ngoại trưởng Henry Kissinger: phải viện trợ quân sự khẩn cấp cho chính quyền Sài Gòn 722 triệu USD.

    … Ngày 10-4 giờ Washington, tổng thống Ford đọc bài diễn văn quan trọng trước quốc hội về tình hình VN và Campuchia. Ông ta yêu cầu quốc hội chấp thuận ngân khoản 722 triệu USD để viện trợ khẩn cấp cho VN cộng hòa và còn ấn định hạn chót để quốc hội đưa ra quyết định là 19-4-1975. “Đúng như dự đoán của đại sứ VNCH Trần Kim Phượng trong bức điện đánh về cho ông Thiệu: thỉnh cầu một ngân khoản lớn như thế chắc chắn sẽ “gây ra kinh hoàng và la ó tại Quốc hội Mỹ” – tiến sĩ Nguyễn Tiến Hưng nhớ lại như thế trong Hồ sơ mật dinh Độc Lập.

    Còn thượng nghị sĩ Mỹ Jackson đã tuyên bố thẳng thừng về yêu cầu của tổng thống Ford trên tờ New York Times ngày 12-4: “Yêu cầu đó chết rồi! Không một ai trong phe mà tôi biết lại ủng hộ nó”.

    Thế chấp cả mỏ dầu và vàng dự trữ

    Thế là xong, cái phao của chú Sam đã tự xì trước khi ông Thiệu với tới nó.

    Nhưng còn nước còn tát. Ngay sau khi được tin vua Faisal bị ám sát chết, tổng thống Thiệu đã chỉ thị cho ngoại trưởng Vương Văn Bắc bay sang Saudi Arabia. Trong cuốn sách Khi đồng minh tháo chạy xuất bản ở Mỹ năm 2005, TS Nguyễn Tiến Hưng cho biết mục đích chuyến đi của ngoại trưởng Bắc là xin quốc vương Haled (vừa kế vị vua Faisal) tiếp tục đồng ý cho VN cộng hòa vay tiền như phụ vương của ông ta đã hứa trước khi bị hạ sát.

    Trong bức điện gửi về cho ông Thiệu ngày 14-4, ông Bắc thông báo là đã “nhận được những bảo đảm vững chắc từ phía quốc vương mới và thủ tướng Saudi Arabia”. “Tôi hi vọng là quyết định về khoản tiền và phương thức của viện trợ sẽ được Chính phủ Saudi Arabia cứu xét sớm” – ngoại trưởng Bắc lạc quan như vậy.

    Cũng theo TS Nguyễn Tiến Hưng, ông Thiệu biết rõ rằng việc thương thuyết vay tiền của Saudi Arabia phải mất ít nhất ba bốn tháng, trong khi “số mạng” của VN cộng hòa lúc đó đang được tính từng ngày một. Do đó, tổng thống Thiệu bèn tính tới một nước cờ khác: bắt tay vào kế hoạch vay nợ của Mỹ, với số vay khổng lồ – 3 tỉ USD. Cần nói rõ đây là vay, chứ không phải xin viện trợ Mỹ như trước đó.

    TS Nguyễn Tiến Hưng nhớ lại:

    “… Ngày 14-4-1975, ông Thiệu bảo tôi thảo gấp một lá thư cho tổng thống Ford đề nghị vay 3 tỉ USD trong ba năm, chia ra mỗi năm 1 tỉ USD. Theo kế hoạch, nếu tại Washington tôi dò xét thấy có triển vọng về khoản vay đó thì đánh điện về ngay để ông Thiệu ký thư và trao cho đại sứ Mỹ Martin”.

    Ngày hôm sau, 15-4-1975, tổng trưởng kế hoạch Nguyễn Tiến Hưng bay sang Mỹ để cùng ngoại trưởng Vương Văn Bắc xúc tiến “lobby” (vận động hành lang) vụ vay 3 tỉ USD nói trên. Ông Hưng đã mang theo lá thư của ông Thiệu gửi tổng thống Ford, trong đó có đoạn: “Tôi trân trọng thỉnh cầu ngài kêu gọi quốc hội cho VN cộng hòa vay dài hạn 3 tỉ USD, chia làm ba năm, lãi suất do quốc hội ấn định, và xin triển hạn 10 năm trước khi trả vốn và lời. Tài nguyên dầu hỏa và canh nông của VN cộng hòa sẽ dùng làm tiền thế chân cho món nợ này”.

    Tài nguyên canh nông nói trên chính là tiềm năng xuất khẩu gạo của miền Nam. Còn tài nguyên dầu hỏa? Đó là mỏ dầu có trữ lượng lớn vừa phát hiện ở thềm lục địa VN.

    Tuy nhiên, ngoài tiềm năng dầu lửa và xuất khẩu gạo, trong cuốn Khi đồng minh tháo chạy, TS Nguyễn Tiến Hưng đã khẳng định thêm hai khoản thế chân khác được đưa ra khi mặc cả với người Mỹ.

    Đó là số tiền mấy trăm triệu USD mà quốc vương Haled hứa cho vay. Còn khoản thế chân cuối cùng chính là 16 tấn vàng dự trữ đang nằm trong hầm của Ngân hàng Quốc gia ở bến Chương Dương.

    BÙI THANH
    Go to Top of Page

    vietnam_today
    Start Member

    8 Posts

    Posted – 05/01/2006 : 14:50:25 Show Profile Reply with Quote
    *** Ông Hưng đã mang theo lá thư của ông Thiệu gửi tổng thống Ford, trong đó có đoạn: “Tôi trân trọng thỉnh cầu ngài kêu gọi quốc hội cho VN cộng hòa vay dài hạn 3 tỉ USD, chia làm ba năm, lãi suất do quốc hội ấn định, và xin triển hạn 10 năm trước khi trả vốn và lời. Tài nguyên dầu hỏa và canh nông của VN cộng hòa sẽ dùng làm tiền thế chân cho món nợ này”.

    Kẻ vu khống CSVN bán nước chính là kẻ đã dâng đảo Hoàng Sa cho Trung Cộng năm 1974, và cũng là kẻ đã nói ra câu nói rất lịch sử, để tôi trích lại từ cuốn sách “Khi Đồng Minh Tháo Chạy” của cố vấn kinh tế miền Nam Nguyễn Tiến Hưng nha, Nguyễn Văn Thiệu nói:

    “Tôi thà để miền Nam cho Trung Cộng cai trị còn hơn là để mất về tay Việt Cộng.”

    CSVN bán nước vậy chứ 89 triệu dân Việt Nam đang sống ở nước nào thế ?

    Dân VNCH giờ ra sao, ở nơi nào, đất nước của họ đâu, ai đã bán nước của họ vậy ? CSVN hay VNCH ???

    Kẻ vu khống CSVN bán nước cũng chính là kẻ đã bỏ nước bỏ dân để mà chạy ra hải ngoại đấy.
    Edited by – vietnam_today on 05/01/2006 14:53:56
    Go to Top of Page

    BHL
    Advanced Member

    7060 Posts

    Posted – 05/01/2006 : 20:13:34 Show Profile Reply with Quote
    vc vietnam_today uiii

    quote:Kẻ vu khống CSVN bán nước chính là kẻ đã dâng đảo Hoàng Sa cho Trung Cộng năm 1974, và cũng là kẻ đã nói ra câu nói rất lịch sử, để tôi trích lại từ cuốn sách “Khi Đồng Minh Tháo Chạy” của cố vấn kinh tế miền Nam Nguyễn Tiến Hưng nha, Nguyễn Văn Thiệu nói:

    “Tôi thà để miền Nam cho Trung Cộng cai trị còn hơn là để mất về tay Việt Cộng.”

    Lại nói chuyện bóp méo lịch sử VN một cách hèn hạ và ngu xuẫn nữa rồi cán ơi. Khi VNCH đánh Trung Cộng tại đảo Hoàng Sa thì mấy tên vc ở đâu vậy? chun lổ chó nào trốn thế? Anh hùng nhân dân đâu mà không bảo vệ lãnh hải VN? Ủa tại sao bọn ngoại bang Tầu đánh chiếm hải phận và đảo Hoàng Sa thì bọn vc lại êm ru, núp dưới váy nhân dân trong khi VNCH lại chống lại ngoại bang? Vậy hành động của bọn vc không phải bán nước luồn cúi kẻ thù dân tộc là Trung Cộng à?

    Vẫn chưa thuyết phục vì bọn vc ngụy biện bóp méo sự thật che đậy sự thật hèn hạ phản bội dân tộc VN à ?

    Bằng chứng trưng bày là bọn vc từ thời Hồ Chí Minh đã dâng lãnh hải và lãnh thổ VN cho Trung Cộng qua Hiệp Ước Biển Đông HCM đã nhượng lãnh hải VN cho Trung Cộng có hình chụp với Chu Ân Lai, có chữ ký của Thủ Tướng VC Đồng ngày 19-5-1958.

    Vẫn chưa đủ hỉ vì ngụy biện hỉ? Vậy thêm bằng chứng bọn csvn bán nước dâng lãnh thổ lãnh hải sau 1975 nữa nè là sau 2000 vc và Trung Cộng dời cột mốc tại vùng biên giới Việt – Hoa vào sâu VN, và vc đã mất thêm lãnh hải cho TC tại Vịnh Bắc Việt, vì thế vừa qua vc đã phải chịu tuân theo lịnh của TC không được đánh cá trong Vịnh Bắc phần vì … bị thuộc Tầu rồi, vc không nghe lời TC thì có mà chết vì đớp kít Tầu!

    Đừng nói với tui không có chuyện dời cột mốc biên giới hay không có vụ lãnh hải miền Bắc VN bị mất vào tay TC nha.

    Qua sự kiện như thế nầy tui nghĩ bọn thực dân Pháp hồi xưa yêu tổ quốc VN nhiều và hơn xa bọn vc là cái chắc, vì dù sao bọn ngoại nhân Pháp cũng giữ gìn lãnh thổ và lãnh hải VN toàn vẹn và xây dựng bảo vệ nhiều hơn và anh hùng hơn bọn VC nhiều.

    Ủa tại sao ngoại nhân như bọn Pháp lại tha thiết bảo vệ lảnh thổ lãnh hải VN vậy cà? Là vì bọn vc là bọn Việt gian bán nước VN đó mà!

    quote:CSVN bán nước vậy chứ 89 triệu dân Việt Nam đang sống ở nước nào thế ?

    Bán nước là bán nước, chứ dân tới 85 triệu thì làm sao mà lùa như vịt để bán cho Tầu một lượt đây? Hơn nữa bán nước chỉ một lần, đâu thể có 1 thứ mà bán nhiều lần được? Nhưng bán sức lao động của dân, hay bán trinh trẻ em, bán gái cho Tầu làm điếm và làm đỉ làm vợ cho Tầu thì đảng csvn có lợi hơn, nhiều tiền hơn .

    Với cả mấy trăm triệu thằng chệt không vợ vì nạn trai thiếu gái thừa bên Tầu, triệu triệu trai tầu đó dư sức lấy hết 45 triệu gái VN một lúc. Nhưng đồng hóa kiểu nầy Tầu khỏi tốn tiền nuôi cơm “gái VN” lại còn được “của hầu môn VN” vậy là thượng sách khỏi phải chiến tranh chết chóc mà còn được “quà”. Đúng là cái “sự đời” lúc nào cũng hấp dẫn .

    quote:Dân VNCH giờ ra sao, ở nơi nào, đất nước của họ đâu, ai đã bán nước của họ vậy ? CSVN hay VNCH ???
    Kẻ vu khống CSVN bán nước cũng chính là kẻ đã bỏ nước bỏ dân để mà chạy ra hải ngoại đấy.

    Một phần dân VNCH đi ra ngoại quốc, cố gắng dùng sức mình chiếm đóng lảnh thổ của ngoại nhân thành của họ một cách danh chánh ngôn thuận và làm vẻ vang dân tộc Việt, không như bọn vc thì chỉ biết giết đồng chủng và bán nước VN bán lãnh thổ lãnh hải và bán dân cho ngoại bang Tầu cộng.

    Vì VNCH không thể hèn hạ bán nước luồn cúi kẻ thù dân tộc VN hay đi xăm lăng giết đồng chủng vì ngoại bang, nên họ bỏ VN chạy ra hải ngoại chớ không phải là “bỏ dân”, đã thua rồi thì còn dân đâu mà bỏ. Và nếu đã thua rồi thì lãnh thổ còn của mình đâu mà bán nước. Hỏi ngu thiệt đó!

    Edited by – BHL on 05/01/2006 20:16:26
    Go to Top of Page

    Nong D Manh
    Junior Member

    Japan
    170 Posts

    Posted – 11/27/2007 : 05:15:33 Show Profile Reply with Quote

    HỒ CHÍ MINH ĐƯA MÁC – LÊ NIN VÀO VIỆT NAM
    Nguyễn thế Đàm

    Các Mác và Lê Nin không thấu hiểu cuộc sống của loài Người nên không thấu hiểu Ai là người lao động và đâu là kẻ ăn bám dẫn đến chủ nghĩa Mác – Lê là vô nhân đạo nhất , bất nhân nhất , bất nghĩa nhất , nghịch lý và nghịch lẽ với cuộc sống của loài người …. 20 năm qua không một Đại Hội Đảng nào , không một Tổng Bí Thư nào … lên tiếng phản biện những lý lẽ xác đáng cho kết luận trên … chúng câm như hến và bậm miệng ăn tiền ….

    Ngu dốt, ngông cuồng, hoang tưởng … Ngu Hồ và phe lũ luôn hành xử Luật Rừng

    “ Chuyên Chính Vô Sản ” để thực hành chủ nghĩa Cộng Sản thối tha ở Đông dương , luôn coi bạn của dân là kẻ thù , coi thù của dân là bạn nên đã gây bao tội ác đẫm máu dân lành trong hơn 60 năm qua mà không bút nào tả xiết , không nước sông nào gột sạch … Đầu năm 1924 cụ Phan Bội Châu cải tổ Quang Phục Hội thành Việt Nam Quốc Dân Đảng cùng Quốc Dân Đảng Trung Hoa của Tôn Trung Sơn ….Tháng 6-1925 cụ Phan nhận được giấy mời đi Quảng Châu dự lễ thành lập chi bộ Việt Nam của Hội liên hiệp các Dân Tộc nhược tiểu trên Thế Giới , mà Ngu Hồ là sáng lập viên Hội này ở Paris Pháp . Khi cụ sắp lên tàu ở Thượng Hải để đi Quảng Châu thì cụ bị một nhóm người tập kích và dẫn vào Tô giới của Pháp gần đó và cụ bị Pháp bắt ….việc bỉ ổi này do chính Ngu Hồ hợp tác với Lâm đức Thụ (đại diện của Phan ở Hồng Công ) bán Cụ cho Pháp để chia nhau tiền thưởng 10 000 ngàn Đông Dương ( bằng 1triệu quan Pháp , bằng 2 triệu ơ rô hoặc 40 tỷ tiền Việt Nam ngày nay ) với lý lẽ : Cụ Phan già rồi và không còn thích hợp với Cách Mạng ( vô sản ) nữa ….còn tiền thưởng mà Ngu Hồ được chia dùng để nuôi dưỡng lực lượng mới ( cộng sản ) . Ngu Hồ và Thụ còn bán tiếp cho Pháp người của cụ Phan để lấy thưởng và Việt Nam Quốc Dân Đảng của cụ Phan dần tan rã . Sự việc bỉ ổi này là do nhà sử học Trung Quốc Tưởng vĩnh Kinh công bố trong cuốn “ Hồ chí Minh ở Trung Quốc .” và các nguồn tin khác … Ngu Hồ và phe lũ coi chủ nghĩa dân tộc là phản “Cách Mạng .” . Đây là tội ác thứ nhất mà Ngu Hồ và phe lũ hãm hại những người yêu nước không theo Cộng sản .

    Tháng 7-1945 tứ cường Xô – Mỹ – Anh – Tàu họp ở PốtsĐam quy định : Sau khi giải giáp quân Nhật , Miến Điện – Mã Lai vẫn thuộc Anh , Thái Lan thuộc vua Thái , Inđônê sia vẫn thuộc Hà Lan , thậm chí Lữ Thuận , Thượng Hải , Hồng Công , Ma Cao , Quảng Châu … của Tầu vẫn là tô giới của ngoại quốc , nhưng ưu ái dành cho Đông Dương và Philippinđược hưởng quy chế Uỷ trị Quốc tế …và Philippin được tự chủ từ năm 1946 …Bảy đại diện : Xô – Mỹ – Tàu – Philippin – 2 Việt Nam và Pháp ( còn quyền lợi ở Việt Nam ) theo cơ chế đồng thuận , mọi đại diện đều có quyền phủ quyết …và như vậy Pháp đã bị hất cẳng ra khỏi Đông Dương và Việt Cộng cũng không thể thực hành được chủ nghĩa cộng sản thối tha ở Đông Dương …

    Bắt đựơc tin trên , lúc ốm nặng ở Tân Trào Ngu Hồ dặn dò Võ nguyên Giáp phải nhanh chóng cướp lấy chính quyền dù phải đốt cháy cả dãy Trường Sơn ….sặc mùi bạo lực nướng dân lành không nương tay ….khi Ngu Hồ và phe lũ còn đang loay hoay họp hành này nọ ….dân Hà Nội gồm viên chức , thị dân , thanh niên , học sinh …đã cướp được chính quyền do quá phẫn uất về cảnh phát xít Nhật gây nạn chết đói năm 1945 …Theo đại đội hỗn hợp Việt Mỹ về Hà Nội , Ngu Hồ nhanh chóng đọc cái được gọi là Tuyên ngôn độc lập …. Tuy vậy , sau 2-9-1945 , Mỹ , Anh , Tàu vẫn là bạn tốt của dân Việt vì tù binh Pháp ( Nhật giam ở Sài Gòn ) vẫn bị Nhật nhốt tiếp và tàn quân Pháp do Alesandric chỉ huy chạy dạt sang VâN Nam sau 9-3- 1945 vẫn bị tước khí giới và vẫn bị quản thúc .

    Thương lượng không xong về qui chế Uỷ trị quốc tế , ngày 23-9-1945 Anh mới thả tù binh Pháp gây hấn ở Nam Bộ và dù tuyên bố giải tán Đảng Cộng Sản ….phái bộ Mỹ vẫn rút đi , đầu tháng 12-1945 tàn binh Pháp ở Vân Nam được tái vũ trang tàn qua Phong Thổ chiếm Lai Châu , Sơn La , Lao Cai , tháng 2-1946 rất ranh mãnh Tàu thương lượng để Pháp hoàn trả tô giới ở Thượng Hải , Quảng Châu loan và đường sắt Côn Minh đổi lại Pháp thay thế Tàu giải giáp quân Nhật ở Bắc vĩ tuyến 16 và quân Pháp ung dung quay lại Đông Dương mà không bị hất cẳng khỏi Đông Dương như Tứ cường đã định và nhân dân Đông Dương buộc phải chống thực dân Pháp , không được hưởng sự ưu ái của tứ cường Xô , Mỹ , Anh , Tàu .

    Nấp sau danh nghĩa giải phóng dân tộc của Ngu Hồ và phe lũ là ý đồ thực chế độ Cộng Sản thối tha ở Đông Dương .

    Đó là tội ác thứ hai của Ngu Hồ và phe lũ do ngu dốt , hoang mang hướng về chủ nghĩa Cộng Sản mà phớt lờ qui chế Uỷ trị quốc tế của Tứ cường Xô , Mỹ , Anh , Tàu ; đuổi được thực dân Pháp mà không tốn một giọt máu . Cuộc chiến 1945-1954 tốn bao xương máu của dân lành thực chất là để giảỉ phóng Tô giới Thượng Hải , Quảng Châu loan thuộc Pháp cho Tàu hưởng và để cho Ngu Hồ choàng vào cổ dân lành dói rách cái ách XHCN thối tha …

    1) – Với luật rừng : Ngu Hồ và phe lũ phóng tay phát động Cải Cách Ruộng Đất đẫm máu mà nhà văn Tô Hoài nguyên độIphó đội Cải Cách Ruộng Đất đã mô tả trong tiểu thuyết “ Ba người khác .” .

    2) – Với luật rừng Ngu Hồ và phe lũ tước đoạt tàn bạo rồi phá nát trong cải tạo Công Thương Nghiệp Tư Bản Tư Doanh

    3) – Với luật rừng Ngu Hồ và phe lũ lùa nông dân vào Hợp Tác Xã cầm nắm đất được chia chưa nóng tay đã bị tước đoạt trần trụi , vẫn hoàn đói rách , mối người làm việc bằng hai để cho Chủ nhiệm mua đài mua xe .

    4) – Với luật rừng Ngu Hồ và phe lũ không cho con em Địa chủ và Tư sản đi học đại học , nhồi nhét chủ nghĩa Mác – Lê xằng bậy để toàn bộ ngành khoa học xã hội và nhân văn với cây Đời mãi mãi xanh tươi ( Goeth) .Xét lý lịch để cho đi học , bằng cấp tràn lan , để lại di chứng giáo dục bí bét …

    5) – Với luật rừng , Ngu Hồ và phe lũ tước đoạt lấn chiếm phá nát mọi cơ sở vật chất của tôn giáo , tín ngưỡng , con người sống trần trụi không tâm linh không tự kiềm chế khuyến thiện bài ác để sống có nhân hậu …

    6) – Với luật rừng Ngu Hồ và phe lũ đàn áp khốc liệt vụ Nhân Văn Giai Phẩm (Đây là cuộc cởi bỏ rào cản cuộc sống lần 1 – các nước khác gọi là cách mạng nhung ) . Nay người đời lại tôn vinh Nhân Văn Giâi Phẩm .

    7) – Với luật rừng , Ngu Hồ và phe lũ luyện toàn dân trong lò bát quái XHCN “ Ai thắng ai .” . Mua như cướp , bán như cho thành một xã hội luôn trấn áp bạo hành , đạo đức xuống cấp nghiêm trọng ….

    8) – Với luật rừng , Ngu Hồ và phe lũ xoá bỏ Bộ Tư Pháp ( 1962 ) khi mà không một nhà nước nào từ cổ chí kim từ Đông sang Tây dám xoá bỏ , thực hành phê,tự phê – xử lý nội bộ , “ Tham ô ngang nhiên ló mặt .” . Mỗi người làm việc bằng ba , để cho chủ nhiệm xây nhà lát sân .

    9) – Dựa luật rừng , Ngu Hồ và phe lũ đàn áp khốc liệt các vụ án xét lại , giam giữ lâu năm hoặc cho tới chết .

    10)Với luật rừng Ngu Hồ và phe lũ hãm hại ông Kim Ngọc về thể chất lẫn tinh thần tới số khi ông cùng nông dân Đông Anh ( vùng chó ăn đá , gà ăn sỏi ) đã xé rào nới trói ( chưa phải xé rào cởi trói khoán đến đội sản xuất mở ra con đường sống chống đói nghèo …( Đây là cuộc cởi bỏ rào cản cuộc sống lần 2 , có ảnh hưởng sâu rộng về sau này …).

    11)- Với luật rừng , Ngu Hồ và phe lũ thực hành nền kinh tế quốc doanh và tập thể . Mua như cướp , bán như cho …dìu đất nước vào cảnh đói rách , bần cùng hoá toàn dân … Dân đã đặt vè : Tôn Đản là chợ vua quan . Nhà Thờ là chợ trung gian nịnh thần . Vỉa hè là chợ nhân dân anh hùng nói lên : Cướp của ai và cho ai .

    12)- Với luật rừng , Ngu Hồ và phe lũ độc quyền nắm giữ hệ truyền thông và xuất bản nên tha hồ bóp méo tô hồng bôi đen hoặc ỉm đi , xuyên tạc , đầu độc …đăng tải những điều nhảm nhí để lung lạc dân lành . Giám sát , kìm kẹp toàn bộ văn nghệ sỹ để thực hiện phương hướng sáng tác “ hiện thực XHCN.” thối tha …

    Đó là tội ác thứ 3 của Ngu Hồ và phe lũ về cái được gọi là xây dựng CNXH ở miền Bắc . Ngu dốt , hoang tưởng về Chủ nghĩa Mác – Lê Nin , chủ nghĩa Cộng Sản rồi cần đào mồ chôn chủ nghĩa Tư Bản …Ngu Hồ và phe lũ điên điên , khùng khùng lại hoang tưởng về chủ nghĩa thực dân mới cần đánh đổ …

    Vênh vang “Tiền đồn XHCN.” rồi hung hăng “ đánh lui từng bước , đánh đổ từng bộ phận .” rồi cao giọng “độc lập tự do .” , Ngu Hồ biết rõ rằng ngoài con đường bạo lực ra , không còn con đường nào để phát triển chủ nghĩa Cộng Sản ở Đông Dương . Tháng 5-1959 Ngu Hồ và phe lũ mở đường xâm nhập vũ khí và cán bộ khung vào miền Nam …nhưng không kích động được thanh niên miền Nam đi lính .

    Đành lừa bịp , phỉng nịnh kèm trấn áp qua lò bát quái HTX nông nghiệp ; thóc không thiếu một cân , quân không thiếu một người đẩy hàng triệu con em nông dân miền Bắc đi B ; Ba lô con cóc – anh đi em khóc – nước mắt như mưa để “ Xẻ dọc Trường Sơn …” gây cảnh “ Nồi da xáo thịt .” chúng nướng dân lành miền Bắc không run tay …

    Ngu Hồ và phe lũ đã tiến hành cuộc chiến “ nồi da xáo thịt .” không chính đáng để thực hiện CNCS quái dị thối tha , hại dân , hại nước trên toàn Đông Dương .

    Hai con chim chèo bẻo đang quần thảo đánh nhau do tranh chấp quyền sở hữu vùng đất , vùng trời nào đó nhưng nhác thấy quạ đen xâm phạm vùng trời của chúng … lập tức cả hai chèo bẻo xông vào đánh quạ đen … con chặn đầu , con khoá đuôi quạ …. cỏntên bổ nhào – con ở dưới bay thốc lên đánh quạ . Hai con chèo bẻo phối hợp ăn ý nhịp nhàng ngoạn mục cùng đánh quạ kể như trước đó mấy chục giây không phải là đối thủ tranh chấp bằng bạo lực , khi quạ đã cao chạy xa bay , chúng lại quay về đánh nhau tiếp để phân định quyền sở hữu vùng trời vùng đất nào đó giữa hai chèo bẻo . Là con vật chúng còn biết kẻ thù chung .

    …..Lớp kế cận của Ngu Hồ : Lê Duẩn , Trường Chinh , Phạm văn Đồng , Võ Nguyên Giáp làm ngơ trước lời đề nghị của chính quyền miền Nam : Hai miền Nam – Bắc cùng hợp sức giữ lấy Hoàng Sa …chúng im hơi lặng tiếng để Mao – Chu – Đặng đánh chiếm Hoàng Sa . Duẩn , Chinh , Đồng , Giáp xử sự vụ Hoàng Sa 1974 không bằng loài vật , chúng theo tà đạo Mác – Lê Nin nên chúng là bọn bán nước …. Từ Hoàng Sa bọn Tàu mới với tay được đến Trưòng Sa gây hấn tiếp .

    Đó là tội ác thứ tư của Ngu Hồ và phe lũ gây cảnh nồi da xáo thịt đẫm máu dân lành do chúng hoang tưởng về việc cần lật đổ cái gọi là chế độ thực dân mới ở miền Nam và lại là bọn bán nước hại dân biếu không Hoàng Sa cho Mao – Chu – Đặng .

    Sau tháng 5-1975 , theo đúng bài bản hành xử luật rừng vô sản chuyên chính như ở miền Bắc : Ở thành thị lại tiêu diệt công thương tư doanh , tước đoạt vốn liếng và tư liệu sản xuất , lùa dân đi kinh tế mới … rồi phá nát các khgu công nghiệp , các xí nghiệp mũi nhọn mà các nước Đông Nam Á thường mơ ước …. ở nông thôn lại lùa nông dân vào tập đoàn sản xuất để tập thể hoá nông thôn …. thực hành kinh tế XHCN : “ Mua như cướp – Bán như cho .” ….dìm miền Nam và Đồng bằng sông Cửu Long – Vựa lúa nhất nhì thế giới – cùng cả nước vào tốp đói rách nhất thế giới . Lại giở trò hề “Đảng cử – Dân bầu .” các khoá CUỐC Hội hại dân hại nước . Lại tiếp tục cấm báo chí và Nhà xuất bản tư nhân hoạt động nhằm bịt mồm bịt miệng những thông tin ích nước lợi dân …

    Không bằng loài vật , rất nhẫn tâm , không mủi lòng trước cảnh hàng triệu thuyền nhân bỏ nước ra đi dù cướp biển và bão tố đe doạ tình mệnh . Miền Nam có hai lô báu vật dầu khí mà người Mỹ không cướp và miền Nam không bán , họ quyết để dành khi Việt Nam đủ lực để tự khai thác lấy , họ chỉ bán những lô vùng sâu , vùng xa … Đói ăn vụng , túng làm càn bán ngay cho Nga – Xô hai báu vật đó …. Hành vi này lật mặt bọn bán nước ….

    Chiếm đóng Căm pu chia 10 năm trời để cố dựng nên chính quyền độc tài cộng sản ở đó là phi nghĩa .

    Đó là tội ác thứ năm – Về cái được gọi là giải phóng miền Nam và xây dựng CNXH trên cả nước .

    Năm 1966 – 1967 nông dân Đông Anh – Vĩnh Phúc ( vùng chó ăn đá , gà ăn sỏi ) đã vùng lên xé rào – nới trói ( chưa phải phá rào cởi trói ) khoán đến đội sản xuất để có đường sống trong đói rách … và chính quyền độc tài ra sức hãm hại trấn áp khốc liệt ông Bí Thư tỉnh uỷ Vĩnh phúc Kim Nọc …. Nhưng nhân dân cả nước vẫn theo gương Đông Anh vùng lên phá rào cởi trói …. Và dần lan sang lĩnh vực công thương nghiệp . Ở vào thế chuột chạy cùng sào , đành phải thực hiện kinh tế thị trường định hướng XHCN nửa dơi nửa chuột : ( Mua như cướp – Bán như cắt cổ dân ) . Doanh nghiệp Nhà nước hoặc độc quyền bóp nặn hoặc lãi giả lỗ thật lại là cái túi để mọi cấp mọi ngành thò tay vơ vét vốn liếng cạn kiệt , công nghệ lạc hậu …. Nhà nước sở hữu đất đai để mọi cấp chính quyền xúc về làm của riêng , Hội nhân dân chống tham nhũng có đầy đủ hồ sơ cướp đất của dân kể từ Nam chí Bắc kể từ Đông sang Tây của các quan chức Cộng Sản mọi cấp … và chính bọn chóp bu cao nhất đang bao che và chúng lập luận : … Làm như thế thì thừa nhận Hà Nội làm sai , làm giảm uy tín của chính quyền địa phương và có thể phát sinh khiếu kiện ở các nơi khác ! Dân không được tư hữu đất đai kéo theo không có nền kinh tế thị trường dẫn tới toàn dân Việt Nam không có nhân quyền vì nền kinh tế thị trường là điều kiện tối thiểu để thực thi nhân quyền . Từ Tổng Bí thư này đến Thủ Tướng nọ …. Cong môi múa mép cúi đầu trải chiếu hoa mời mọc đầu tư nước ngoài và bỏ mặc công nhân với đồng lương quá thấp …. Vốn vay nước ngoài ODA lại là cái Núi để kẻ có chức quyền cấp cao CUỐC mang về nhà . 99,99% kẻ tham nhũng lớn là ĐẢNG VIÊN cộng sản trung thành tuyệt đối với Đảng và chính quyền độc tài cộng sản làm sao chống được tham nhũng , có chăng tham nhũng ngày càng tinh vi sâu đậm hơn mà thôi . Dân tổng kết : ĐỘC LẬP TỰ DO – MIẾNG TO CHÚNG GẮP .

    Chúng biếu không cho Tàu nhiều vạn km2 vùng biển , vùng đất : vụ Vịnh Bắc Bộ , vụ Thác Bản Giốc …

    Đó là tội ác thứ 6 về cái được gọi là kinh tế thị trường định hướng XHCN nửa dơi nửa chuột , tham nhũng tinh vi sâu đậm bùng phát , lại vừa độc diễn trò hề lố bịch đảng cử dân bầu CUỐC hội khoá 12 .

    Hiện giờ , ngoài việc cấm truyền thông báo chí xuất bản tư nhân , quản lý rất chặt chẽ báo chí quốc doanh vượt rào phanh phui tham nhũng nhạy cảm , sợ xảy ra tình trạng “ cái xảy nảy cái ung .” .

    Kết luận : Với những thành tích bất hảo gian manh bỉ ổi … hại dân hại nước trong suốt hơn 60 năm qua và hiện nay quốc nạn tham nhũng sau đậm ở mức tinh vi đang bùng phát ở mọi nơi kể từ bọn chóp bu cao cấp nhất đến tên Bí thư chi bộ ở thôn xóm …. một chính quyền độc tài cộng sản ngu dốt thối nát như vậy CÓ ĐÁNG TỒN TẠI hay CẦN XOÁ BỎ .

    Liên Xô và Đông Âu đã sụp đổ chứng tỏ trên thực tiễn CNCS đã sụp đổ .

    Còn về mặt lý luận , dân Việt đã chỉ rõ chủ nghĩa Mác – Lê xằng bậy nhất trên đời này …. Và chính quyền độc tài cộng sản thối tha như con gián sợ ánh sáng ban ngày không giám lên tiếng phản biện …. Hãy tranh luận công khai minh bạch sòng phẳng trên báo chí về sự đúng sai ở mặt lý luận của chủ nghĩa Mác – Lê Nin . Và sau cuộc tranh luận sẽ tiến hành cuộc trưng cầu dân ý trên toàn quốc : KHÔNG hay CÓ chấp nhận điều 4 của Hiến pháp dưới sự giám sát chặt ché và công minh của Quốc tế ….

    Hẹn một tháng chính quyền cộng sản thối tha hồi âm . Có chấp nhận tranh luận hay không – Nếu sau một tháng mà không hồi âm : Kết luận đã được định đoạt .

    Nguyễn thế Đàm

    không có gì khốn hơn đập dập tự do
    Go to Top of Page

    Nong D Manh
    Junior Member

    Japan
    170 Posts

    Posted – 11/27/2007 : 05:17:57 Show Profile Reply with Quote

    LẠI MỘT TÊN TRÙM MAFIA VIỆT NAM BỊ QỦY SỨ ÁP TẢI VÀO HỎA NGỤC

    Phạm Văn Ðồng, một trùm mafia Việt Nam, một cánh tay đắc lực thực hiện những tội ác của Hồ Chí Minh đối với nhân dân và đất nước Việt Nam, vừa chết như một con chó già. Trong các trọng tội của Ðồng thì, tội thay mặt Hồ và tập đoàn mafia cộng sản tiếm quyền, ký giấy dâng đất cho Trung-cộng, gồm các đảo Trường-sa và Hoàng-sa vào ngày 14-9-1958, là ghê tởm nhất. Bởi trong lịch sử Việt Nam, chưa một tập đoàn cầm quyền nào lại dám làm cái việc dâng đất cho nước ngoài để đổi lấy sự ủng hộ và vũ khí nhằm giết dân, phá hoại môi sinh nước mình vì lợi ích của một ngoại bang khác. Ðó là bán đất cho Trung-cộng để thực hiện chiến lược bá quyền của Nga-sô !

    Phạm Văn Ðồng quê ở Quảng Ngãi, sinh năm 1905, xuất thân gia đình quan lại. Thuở trẻ, Ðồng theo học tại trường Albert Sarraut ở Hà-nội và đậu tú tài phần thứ nhất thì bỏ học. Ðồng học ở A. Sarraut cùng thời với mấy ông hoàng người Lào thuở đó là Su-va-na Phu-ma va Su-va-na Phu-vông, và có biệt hiệu là “Ðồng cháy”, vì da đen.

    Thoạt kỳ thủy Ðồng chịu ảnh hưởng của các phong trào yêu nước của Cần Vương, Văn Thân, Ðông Du v.v… cùng lúc do học ở A. Sarraut nên Ðồng cũng nhiễm tư tưởng cấp tiến trong các tác phẩm của Voltaire, J.J. Rousseau; chủ nghĩa nhân đạo của Owen v.v… Chỉ đáng tiếc cho nhiệt tình yêu nước đó, khi đã nhiễm HIV cộng sản dương tính, thì Ðồng trở thành mất sức đề kháng của người thanh niên yêu nước.
    Tổ tiên ta đã dạy :“Gần mực thì đen, gần đèn thì sáng”. Quả rằng từ lúc Ðồng qua bên Hoa-lục và gặp Hồ Chí Minh thì cái phần yêu nước chân chính trong người Ðồng đã bị tiêu diệt bởi ma khí và tà thuyết của Hồ. Cái bản lãnh của chàng thanh niên Tây-học Phạm Văn Ðồng đã bị Hồ Chí Minh và cái gọi là chủ-nghĩa Marx-Lénine hủy diệt, để thay thế vào đó sự ngu xuẩn, tàn bạo, vô liêm sỉ, của tên mafia cuồng tín.

    Hồ rất tin Ðồng. Ngược lại, Ðồng luôn kính cẩn và tuyệt đối trung thành với Hồ như con chó berger trước chủ vậy.
    Khi bằng lừa dối, tiếm được quyền cai trị thì Hồ giữ ghế chủ-tịch nước kiêm thủ-tướng và trao cho Ðồng cái ghế phó thủ-tướng kiêm bộ trưởng ngoại giao. Ðến 1956 thì Ðồng được Hồ ban cho cái ghế thủ tướng chính phủ.

    Về phương diện chính quyền, Ðồng là người phát ngôn của họ Hồ. Về mặt đảng mafia, Ðồng luôn luôn là nhân vật thứ ba (không kể Hồ) trong bộ chính trị mafia; là quả cân phụ mà Hồ dùng khi cần điều chỉnh sự thăng bằng giữa bên tả và hữu của bộ chính trị. Nói một cách khác, Ðồng là lá phiếu, là người phát ngôn của Hồ trong những trường hợp Hồ không muốn lộ ý kiến công khai trong các cuộc họp chính phủ hoặc họp đảng mafia (nhất là họp bộ chính trị).

    Cái chết của Ðồng chắc chắn được bọn trùm mafia đỏ Việt Nam hư cấu cho một tiểu sử lê thê đủ thứ thành tích này nọ, hệt như mỗi lần có một trùm trong bọn chúng chết. Và, lũ bồi bút, lũ sử nô của chúng sẽ dựa vào đó mà ra công sơn mạ theo kiểu vàng Mỹ Ký ! Nhưng vải thưa chẳng thể che mắt thánh, nên dưới đây là những sự thật mà bồi bút và sử nô mafia đỏ né tránh.

    Trường hợp của Phạm Văn Ðồng thì đó là năm 1945 về đến Hà-nội, Ðồng chọn vợ là con gái chủ tiệm kem Long Vân ở Bờ Hồ, Hà-nội, một gia đình giàu có ở Hà-nội lúc ấy, cùng lúc Hồ ăn nằm tại nhà đại phú Trịnh Văn Bô ở phố Hàng Ngang để soạn… tuyên ngôn độc lập, trong đó có phần trích dẫn từ tuyên ngôn của nước Mỹ. Viết và làm như vậy nên tên bài Tây Hồ Chí Minh và đệ tử đã lừa được… gần cả nước Việt Nam khi ấy, lẫn chàng sĩ quan tình báo của Mỹ : Patti.

    Khi chính phủ Liên Hiệp kháng chiến chống Pháp rời Hà-nội lên Việt Bắc, Phạm Văn Ðồng đã phạm một tội nặng : hắn đã cưỡng bức một cô học sinh trong đoàn học sinh miền Nam ra thăm miền Bắc năm 1946, rồi vì chiến tranh nên cả đoàn cũng sơ tán lên Việt Bắc. Vợ Ðồng bắt được quả tang, làm ầm lên. Bảo vệ của Ðồng đã bắt bà ta nhốt lại nên bà ta bị điên. Mọi người chỉ biết vợ Ðồng bị điên, nhưng ít người biết nguyên nhân khiến bà ta bị điên.

    Sợ tai tiếng cho đệ tử ruột nên trùm mafia đỏ Hồ Chí Minh trực tiếp can thiệp. Hắn cho cô bé học sinh tội nghiệp đó qua Nga-xô học. Nhưng vừa tới đất “Hưá” của mafia đỏ quốc tế thì cô bé học sinh đó bị tai nạn xe hơi chết không kịp trối trăng điều gì. Từ đó, một Phạm Văn Ðồng tươi tỉnh của thuở ở hội nghị Fontainebleau (1946) nhường chỗ cho một Phạm Văn Ðồng lúc nào cũng cáu kỉnh, lầm lì như “chó thiến bị nhét mảnh chai vỡ”. Người thì nói Ðồng vì buồn chuyện vợ bị điên, kẻ thì thầm thì rằng Ðồng vẫn còn đau khổ vì cái chết của cô bé học sinh miền Nam, được ban “quốc tính” họ Hồ, có đôi mắt nai tơ, làn da trắng mịn, cặp mày lá liễu và vành môi không thoa son mà lúc nào cũng đậm màu hoa đào Nhật-tân.

    Ngày 1-1-1955, tại cuộc mít-tinh đầu tiên do mafia đỏ tổ chức trước Nhà Hát Lớn của Hà-nội, Phạm Văn Ðồng hoàn toàn đánh mất vẻ sắc xảo khi còn ở trường A. Sarraut, hào hứng tranh luận rất thông minh về Bossuet, về bài thơ “A une jeune morte” của Ronsard v.v… để ngây ngô đến đần độn của một nhân vật võ công tà phái bị cấy “sinh tử phù” trong chuyện chưởng, dám phát biểu, đại ý :“Sau khi họp hội nghị ở Genève, đoàn chúng tôi về qua Liên-sô, được đồng chí Malenkov giao nhiệm vụ là miền Bắc Việt Nam chỉ cần trồng chuối và săn hổ đổi cho Liên-xô là cả miền Bắc Việt Nam no đủ.” Rồi Ðồng hỉ hả cười trước và tự vỗ tay mừng rỡ một cách chân thật. Giờ đây, đố ai tìm thấy bài nói chuyện đó của Ðồng, cũng như bài nói của họ Hồ liền năm đó, khi hắn đến thăm trường nữ học Trưng Vương, rằng :“Bỏ cái áo dài đi. Trong nó vừa ẻo lả, vừa yếu đuối. Vải may một áo dài này có thể may được hai áo cánh.”

    Trông mặt mũi có vẻ “ngầu” nhưng Ðồng thực sự là loại tầm gửi, không dám quyết định cái gì lớn mà chỉ thừa hành ý kiến của Hồ. Khi Hồ chết thì Ðồng làm vừa lòng cả Lê Duẩn, Trường Chinh lẫn Lê Ðức Thọ.
    Có những chuyện tưởng như đùa mà là thực trăm phần trăm. Như chuyện vợ của bí thư tỉnh ủy Hà-tây, Bạch Thành Phong, là hiệu trưởng trường trung học thị xã Hà-đông, ỷ thế chồng, đã chửi và tạt tai một giáo viên dưới quyền. Các giáo viên dưới quyền phẫn nộ làm đơn tập thể gửi lên Phạm Văn Ðồng. Thế là Ðồng về họp với Ty giáo-dục Hà-tây, ra lệnh cách chức mụ hiệu trưởng. Chưa đầy 3 tháng sau, nhân hội nghị tỉnh đảng bộ mafia đỏ của Hà-tây, Bạch Thành Phong cho tay sai đề cử vợ hắn vào chấp hành tỉnh đảng bộ và hắn chỉ đạo để vợ hắn không những trúng cử mà còn được phân công là trưởng ban tuyên huấn tỉnh đảng bộ. Nghĩa là mất chức hiệu trưởng của một trường trong thị xã Hà-đông thì chưa đầy 3 tháng sau mụ ta phụ trách chỉ đạo cả 3 ty : giáo dục, y tế và văn-hóa thông-tin của toàn tỉnh Hà-tây ! Phạm Văn Ðồng được cho biết chuyện đó, nhưng lờ đi, vì… Bạch Thành Phong là đệ tử ruột của Trường Chinh !

    Lại một chuyện khác, xảy ra ở phân xã nhiếp ảnh, Việt Nam thông tấn xã ở Hà-nội. Ðược tin Phạm Văn Ðồng đến thăm và nói chuyện với phân xã nhiếp ảnh, Hoàng Tuấn, Tổng giám đốc Việt Nam thông tấn xã và Hoàng Tư Trai, giám đốc phân xã nhiếp ảnh họp toàn cơ quan trước, ra lệnh rằng sau khi Ðồng nói, không ai được phát biểu gì mà để “lãnh đạo phát biểu thay”(?). Khi Ðồng đến, thao thao bất tuyệt nào là “kiên cương”với “tiên lên” (vì Ðồng nói như Tây nói tiếng Việt, không có dấu, và các bài nói của Ðồng ở chỗ nào cũng hay động viên ‘kiên cương’ với ‘tiên lên’). Rồi Ðồng hỏi :“Co đông chi nao co y kiên không?” Mọi người im lặng một lát. Bỗng phóng viên ảnh Xuân Bảo đứng dậy báo cáo rằng :“Lãnh đạo dặn không ai được nói với thủ tướng.” Ðồng đang cười mỉm, sầm mặt lại. Một mụ nhân viên mới từ vùng mỏ Hồng-quảng chuyển về, nhanh nhẩu đứng dậy :“Báo cáo thủ tướng, Xuân Bảo là phần tử lạc hậu của cơ quan đấy ạ!” Ðồng trừng mắt :“Chị là người xấu, đồng chí Xuân Bảo là người tốt vì đã dám báo cáo sự thật cho thủ tướng biết!” Cả hội trường im phăng phắc. Bỗng Ðồng ngửa mặt cười “chua chát” rồi hằm hằm ra về. Ngay hôm sau, phóng viên ảnh Xuân Bảo bị cơ quan Thông Tấn Xã cho nghỉ việc với lý do : Vô Kỷ Luật. Phóng viên Xuân Bảo chạy lên phủ thủ tướng cầu cứu Phạm Văn Ðồng nhưng… Ðồng không tiếp và cũng không… giải quyết. Xuân Bảo đành chạy về Văn phòng Quốc hội, đón xe ô-tô của Trường Chinh để khiếu nại. Trường Chinh đề vào đơn của Xuân Bảo “Chuyển anh Tô giải quyết” (Tô là bí danh của Ðồng). Sau đó, án kỷ luật của Xuân Bảo được đổi thành “Mất sức cho hưu non” và cho một số tiền bằng 12 tháng lương chính. Thế là người hùng năm 1945, đã cắm cờ ở tòa đốc lý Hà-nội, là thương binh trong chiến tranh chống thực dân Pháp, là đảng viên mafia đỏ (đảng viên trơn), là phóng viên ảnh bậc 5, là người đã bám trụ ở cầu Long Biên ngày máy bay Mỹ ném bom phá xập cầu, là người được Ðồng “tuyên dương” là “người tốt” trước hội nghị toàn cơ quan Thông Tấn Xã bị đá một cái để thành một xã viên hợp tác xã !!! Một phần vì cả Hoàng Tuấn lẫn Hoàng Tư Trai là đệ tử của Trường Chinh, nhưng cái chính yếu là tập đoàn lãnh đạo mafia đỏ không muốn khuyến khích cấp dưới tố giác cấp trên. Theo Hồ và bọn tay chân :Ðó là mầm loạn. Cấp dưới chỉ được khuyến khích phục tùng tuyệt đối dù là mù quáng.

    Lại một chuyện khác xảy ra ở cảng Hải-phòng. Ðó là tình trạng mất cắp một cách trắng trợn, vì kẻ lấy cắp chính là lũ quản lý và bảo vệ cảng. Các cá nhân và đơn vị có hàng bị mất khiếu nại khắp nơi và Phạm Văn Ðồng, nhân danh thủ tướng chính phủ trực tiếp xuống cảng Hải-phòng kiểm tra. Hết làm việc với đảng ủy rồi lại đến ban giám đốc, sau cùng Ðồng họp với cán bộ công nhân viên, kêu gọi tinh thần bảo vệ hàng hóa ở cảng. Thế là người tốt lại bị quả lừa. Một bác công nhân già, từng làm ở cảng Hải-phòng từ thời thực dân Pháp, buồn bã phát biểu, đại ý :“Thưa thủ tướng, tôi là công nhân cảng từ khi tròn 18 tuổi, đến nay đã hơn 50 tuổi. Chưa bao giờ tôi thấy làm ăn tắc trách như bây giờ. Vừa ăn cắp, vừa phá hoại công khai, bởi vì họ hầu hết là người có quyền lớn cả về đảng lẫn chính quyền. Ai mà nói ra là bị trù ém. Thời thực dân Tây cũng không bao giờ có tình trạng như vậy, thế mà nay nhờ ‘Bác’ và đảng, ta làm chủ mà hóa ra thành ăn cắp của nhân dân. Ai không ăn cắp bị gọi là ngu lâu, bị cách ly và bị đặt đủ thứ tên để chê bai. Thế là thế nào? Kính xin báo cáo lên thủ tướng để giải quyết.” Nghe nói vậy, Ðồng đứng trân trân như trời trồng, “ứa nước mắt” lắc đầu ra về. Trước khi ra khỏi hội trường, Ðồng gọi bác công nhân già bảo ra xe cùng Ðồng về Hà-nội, đồng thời cho lệnh đưa cả gia đình bác công nhân đó về Hà-nội. Vì, như Ðồng nói :“Ðồng chí ấy và gia đình mà còn ở cảng chắc sẽ gặp nạn”(?).
    Câu chuyện trên được một số bút nô mafia đỏ tô vẽ rằng “Ðồng rất tâm lý, rất tình người”. Thực ra không phải vậy. Mà vì Ðồng từng cặp kè với Hồ những ngày Hồ còn phải lang thang bên Tàu, hiểu rõ mọi ngón nghề của tên bài tây chính trị, tên mafia đỏ quạch Hồ Chí Minh và cái đảng mafia do hắn lèo lái thực chất là một tập đoàn ăn cắp, ăn cướp, lưu manh lừa đảo tụ họp nhau, núp dưới tên đảng chính trị, thoa son yêu nước để ăn cắp và ăn cướp của toàn dân, phá hoại toàn bộ tài nguyên của đất nước. Cho nên chuyện ăn cắp ở cảng Hải-phòng là cái tất yếu của việc “trồng cây nào hái quả đó” mà thôi. Vì thế mà Ðồng phải lờ đi, cũng như việc đưa gia đình bác c

  66. Nói cho cùng những phản hồi chống đối CD của cha Lễ lên đến con số cao, chứng minh là có tác dụng, chúc mừng những người làm ra CD sự thật của HCM có tác dụng là cho những đúa trẻ đươc biết sự thật đem lai kết tốt đẹp cho đất nước không có mờ ám như xưa nửa

  67. 1 lu cho san cs ngu nhu con bo ,vua viet vua khen .dung la di san cua thang cho de ho chi minh

  68. Lại một tài liệu chống cộng hết sức rẻ tiền và vô giá trị, những kẻ làm ra nó cũng là những kẻ rẻ tiền, vô giá trị không kém. Hàng chục năm đã qua rồi mà cái đầu những người này vẫn ngu si và đần độn như thế này thì bảo sao chế độ cộng sản trong nước vẫn sống khỏe, còn những người chống cộng dù trong nước hay hải ngoại vẫn bị chửi là “phản động” là “bợ đít Tư bản”. Chắc chắn những kẻ này chỉ dám hô hào đả kích, miệt thì Hồ Chí Minh ở hải ngoại thôi, chứ cứ thử về Việt Nam mà làm điều đó xem, chưa đến lượt Công an đến bắt thì có lẽ đã bị người dân xung quanh đó đánh cho đến chết luôn rồi. Lúc đó Công an đến sớm may ra còn được giữ toàn mạng.
    Đồng ý là Nhà nước Việt Nam hiện nay có nhiều cái không được lòng dân. Nhưng nếu vì thế mà đòi đánh đổ hình tượng Hồ Chí Minh trong tâm trí của người dân Việt thì đó chỉ là giấc mơ viễn vông hão huyền thôi. Tỉnh lại đi các chú chống cộng ơi. Hãy tìm cách khác mà đánh đổ cộng sản.

  69. Bo phim Su That hcm da lam csVN nhay nhom, huy dong mot luc luong hung hau de phan bien trong do co ong ts khong co cong trinh khoa hoc gia tri nao chi co nhung cong trinh chui di nhien la vo gia tri tran chung ngoc. Cang phan bien moi nguoi cang to mo tim xem. Chuyen ten giac ho chi minh hai dan hai nuoc nguoi deu da biet tu lau.

  70. Cái gọi là bộ phim ” Sự thật về Hồ Chí Minh “, tôi chỉ liếc qua để xem họ đã làm những gì sau bao nhiêu nỗ lực chống phá chế độ, nay lại thêm một chiêu bài mới sau những thất bại liên tiếp trên chặng đường đi chống phá chế độ của những con người theo thế lực thù địch. Sau khi liếc qua tôi có 1 vài nhận định cơ bản như sau.
    1. Rõ ràng bộ phim vẫn theo luận điệu cũ là bôi nhọ lãnh tụ Hồ Chí Minh, nhưng lần này lại với chiêu bài khác: tất cả những hình ảnh và tư liệu đưa ra đều lấy từ những tư liệu mà ai cũng đã xem từ lâu, nhưng lần này họ đã dùng chiêu bài để bôi nhọ là dùng bằng “mồm” của 3 thành phần: (Bọn phản bội, Bọn phản động, tầng lớp thanh niên trẻ bị lôi kéo). Với những lý lẽ hết sức lố bịch và nực cười. Tôi lấy 1 ví dụ như trong tình huống bộ phim đưa ra Hồ Chí Minh có nhiều ngày tháng năm sinh khác nhau, đó là điều dĩ nhiên trong lý lịch hoạt động, nhưng điều đáng nói ở đây là những nhà được gọi là ” Sử học” của bộ phim đưa ra không chính xác, hay nói cách khác là chưa đủ. Bác Hồ còn có thêm 2 ngày tháng năm sinh ngày nữa, có tổng cộng là 8 ngày tháng năm sinh khác nhau, hoặc như ngày tháng ra đời của NKTT, ai cũng đã từng biết ở trong tù mà ai lại ghi rõ ngày tháng thật cuốn sổ mà mình có trong tay, đặc biệt dưới nhà tù hà khắc của Tưởng Giới Thạch , nếu ghi rõ ngày tháng thật lỡ họ bắt được thì không biết chuyện gì sẽ xảy ra. Còn rất nhiều chi tết khác, nếu các bạn trẻ đã từng đọc qua lịch sử thì cũng hiểu được rằng tất cả những gì bộ phim đã đưa ra đều không có căn cứ( Bác Hồ có vợ…).
    2. Mục đích của bộ phim cũng quá rõ ràng, họ đã từng công bố trên các diễn đàn rằng “muốn đánh đổ chế độ Cộng Sản thì trước hết phải hạ bệ tư tưởng HCM trong con người Việt Nam” vậy thì họ đang làm một việc mà tôi cho là không thể. Tôi nghĩ nếu họ làm 1 cuộc điều tra bằng trắc nghiệm đủ mọi lứa tuổi trên khắp đất nước Việt Nam thì tôi chắc rằng không dưới 90% người dân tôi sẽ sẵn sàng đuổi những người có ý tưởng bôi nhọ HCM ra khỏi nhà.
    trên đây chỉ là những suy nghĩ tức thời khi liếc qua đoạn phim mà có sự đóng góp “công sức” của một số gương mặt điển hình mà khá “nổi” đã đưa hình họ lên phim, đưa những ý kiến rất “uyên bác” đối với họ lên phim. Thiết nghĩ, 86 triệu người dân Việt Nam nói riêng, nhân dân trên tàn thế giới nói chung sẽ không khỏi nhoẻn miệng cười 1 cách chua xót và cảm thông đối với họ (những người đã bỏ công sức đi tìm sự thật về HCM).
    còn tiếp….

    • Tuyệt vời!!!

    • mãi là nòi giống Lạc Hồng

      Tuyệt vời!!!

  71. Không cần cái DVD đó thì người dân VN bây giờ cũng quá hiểu, quá biết về HCM, sự thật theo thời gian tự nó sẽ phơi bày, CS có cố tìm mọi cách để bưng bít, bịt tai, che mắt cũng vô ích, thông tin đó từ nhiều nguồu khác nhau, và từ lâu rồi chứ không phải bây giờ mới biết, mới hiểu từ cái đĩa DVD đó.
    Đĩa DVD của ông NHL chỉ là gom thông tin, tổng kết lại và phổ biến để thêm nhiều người hiểu ra bộ mặt thật của HCM mà thôi.
    Hiện giờ, CS nên phục thiện thay vì hoài công đi bưng bít, che đậy những sự thật đó!

  72. NHẬN ĐỊNH VỀ DVD “SỰ THẬT VỀ HỒ CHÍ MINH”

    Của Linh mục Nguyễn Hữu Lễ & Trần Quốc Bảo

    Trần Chung Ngọc

    23 tháng 8, 2009 – bổ túc vài chi tiết ngày 31 tháng 8, 2009
    theo yêu cầu của đọc giả với sự đồng ý của tác giả

    Gần đây, đọc trên Internet, tôi đã biết là ở hải ngoại mới tung ra một DVD về “Sự Thật Về Hồ Chí Minh”, “sản phẩm trí tuệ” của linh mục Nguyễu Hữu Lễ và Trần Quốc Bảo. Nhìn vào bản thân của linh mục Nguyễn Hữu Lễ, và danh sách những tài liệu tham khảo như của Cao Thế Dung, Minh Võ, Trần Gia Phụng, Hoàng Văn Chí, Mark Moyar, Lê Hữu Mục v…v… cùng những nhân vật được phỏng vấn để thực hiện DVD như Minh Võ, Nguyễn Ngọc Bích, Bùi Diễm, Nguyễn Minh Cần, Vũ Ngự Chiêu, Vũ Thư Hiên, Dương Thu Hương, Lê Hữu Mục, Tôn Thất Thiện, Trần Gia Phụng, Trần Ngọc Thành, Trần Mạnh Hảo, Bùi Tín, LM Phan Văn Lợi v..v…, chúng ta có thể đoán được nội dung và giá trị những “sự thật” này là như thế nào. Cho nên, tôi không mấy quan tâm đến tài liệu này.

    Nhưng có người bạn vừa mới cho tôi một bản sao DVD trên, cho nên tôi đã bỏ chút thì giờ xem trong đó có những gì. Xem xong tôi có thể nói ngay đó là một tài liệu chống Cộng quen thuộc rất rẻ tiền, và nếu tôi có thể mượn lời của Ulrich Rippert trong bài “A political evaluation of Schwarzbuch des Kommunismus” — [The Black Book of Communism], 15 July 1998, nhận định về cuốn “Le Livre Noir Du Communisme” của Tổng Biên Tập Stéphane Courtois như sau: “Là một tác phẩm nghiên cứu nghiêm chỉnh về sử, cuốn “Sách Bôi Nhọ…” hoàn toàn vô giá trị”. [As a serious historical work the “black book” is totally worthless], thì tôi cũng có thể đưa ra một nhận định tổng quát về DVD “Sự Thật Về Hồ Chí Minh” : “Là một sản phẩm chống Hồ Chí Minh và chống CS, DVD “Sự Thật Về Hồ Chí Minh” hoàn toàn vô giá trị” .

    Trước khi viết bài phân tích này, tôi có email hỏi vài người bạn thân xem đã có ai coi DVD này chưa và có ý kiến gì không? Một người bạn đã trả lời như sau:

    Toàn bộ cuốn phim (khoảng 100 phút) được cài đặt trên YouTube (13 đoạn):

    http://www.vietcyber.net/forums/showthread.php?t=129707

    Tôi chưa xem hết nhưng sơ khởi có những nhận xét sau:

    1- Từ nội dung (tài liệu) đến hình thức (kỹ thuật) rất chuyên nghiệp. Tôi không tin người Việt hải ngoại, let alone LM Nguyễn Hữu Lễ, có khả năng thực hiệnđược. Tôi nghi là có “bàn tay” nào đó chỉ đạo và giúp đở.

    2- Thành phần được phỏng vấn thì đơn điệu, một chiều, cùng phe cánh. Cho nên, at best, có thể gọi là “Một nữa sự thật về HCM” thì đúng hơn. Những công lao của ông HCM trong sự nghiệp cứu nước hoàn toàn không được đề cập đến.

    3- Nhiều tài liệu hoặc interviews chỉ là những tuyên bố chủ quan, không có reference.

    4- Một trong những kỹ thuật (tuyên truyền) là associate ông HCM với Staline, Mao, Pol Pot, … để force tư duy người xem chấp nhận (một cách vô thức) cái similarity giữa những nhân vật nầy.

    5- Fact Interpretation, ví dụ về chuyện ông HCM làm đơn xin học trường thuộc địa và nhiều chuyện khác, cũng chỉ là suy diễn theo chủ quan để phục vụ mục đích tuyên truyền của DVD.

    6- Rất “vui” vì thấy ghi tên người chủ trương DVD là LINH MỤC Nguyễn Hữu Lễ. Để cho những ai còn “mơ tưởng” chuyện bang giao với Vatican … sáng mắt ra.

    Nói tóm lại, đây là một tài liệu tuyên truyền hơn là một nghiên cứu lịch sử. Nhưng chắc chắn là có hiệu quả cao trong giới CG và chống Cọng. Và cũng “thuyết phục”được một số đông lười suy nghĩ và thiếu hiểu biết.

    Tôi đồng ý với anh bạn về những nhận xét trên nhưng đó chỉ là những nhận xét đại cương về một phần của DVD. Đi vào sự phân tích những chi tiết trong DVD trên, chúng ta có thể chứng minh rằng, “sản phẩm trí tuệ” của LM Nguyễn Hữu Lễ và Trần Quốc Bảo, và của một số người được phỏng vấn, thuộc loại chống Cọng rẻ tiền, không có một giá trị trí thức nào. Vì thời buổi này mà còn mang những chuyện thuộc loại “tố Cọng” của hai nền Đệ Nhất và Đệ Nhị Việt Nam Cọng Hòa như “tiêu diệt các đảng phái quốc gia”, “cải cách ruộng đất”, “Tết Mậu Thân” , “gần 1 triệu người Bắc di cư năm 1954” v…v… và đổ lên đầu ông Hồ với chủ trương “character assassination” thì giá trị trí thức là ở chỗ nào. Điều đặc biệt là ngay cả những bậc được gọi là trí thức cũng nhắc đi nhắc lại những luận điệu tố Cọng đã lỗi thời trên như là những đĩa hát đã cùn, cứ lập đi lập lại một điệu.

    DVD “Sự Thật Về Hồ Chí Minh” vô giá trị vì dựa trên những thông tin sai lầm, khoan kể những phát biểu một chiều của vài nhân vật Việt Nam được phỏng vấn, như ngay cả khi phỏng vấn những tác giả nổi tiếng như William J. Duiker, Sophie-Quinn Judge , những tác giả đã nghiên cứu về Hồ Chí Minh, những người làm DVD trên cũng chỉ đưa ra vài chi tiết lặt vặt về đời tư của ông Hồ, mà bỏ qua những nét quan trọng và to lớn hơn nhiều về nhân vật Hồ Chí Minh của chính hai tác giả trên. Những người làm DVD trên cũng không nhắc đến những cuộc phỏng vấn của đài RFI và BBC, phỏng vấn chính Giáo-sư Sophie-Quinn Judge và Pierre Brocheux, giáo sư đại học Pháp. Như vậy sản phẩm DVD trên chỉ là kết quả của một công trình đầu voi “Sự thật về Hồ Chí Minh” với đuôi chuột “chống Cọng”, thiếu lương thiện trí thức, một chiều, với một ý đồ là toan tính phá bỏ những điều mà họ cho là những “huyền thoại về Hồ Chí Minh”. Nhưng họ hoàn toàn thất bại vì chính nội dung trong DVD về “Sự Thật Về Hồ Chí Minh” lại chẳng có mấy “sự thật về Hồ Chí Minh” mà chỉ là một loạt những quy kết mọi trách nhiệm lên đầu Hồ Chí Minh. Chúng ta sẽ thấy, tất cả chỉ là những màn kịch cũ kỹ, diễn xuất bởi nhưng diễn viên hạng ba, trên một sân khấu mà những đà chống đỡ đã mục nát. Sau đây chúng ta hãy đi vào việc phân tích một số chi tiết trong vở tuồng “Sự Thật Về Hồ Chí Minh”.

    Màn Kịch 1 của DVD “Sự Thật Về Hồ Chí Minh”

    Mở đầu DVD là hình ảnh hàng dài người dân Việt Nam vào thăm “Lăng Bác Hồ” rồi đối chiếu với lễ khánh thành Đài Kỷ Niệm Những Nạn Nhân Cọng Sản ở Washington D.C., do tổng thống George W. Bush (Bush Con), nhân danh người dân Mỹ, đứng ra tố Cọng với luận điệu chứng tỏ trình độ của Bush về vấn đề này không khác với trình độ của LM Nguyễn Hữu Lễ và những người Việt chống Cọng ở hải ngoại là bao nhiêu. Thật vậy, ông Bush nói: “theo sự nghiên cứu của các sử gia trên thế giới, thì con số nạn nhân của Cọng sản trên thế giới là 100 triệu người”.

    Mở ngoặc: Lẽ dĩ nhiên ông Bush không bao giờ muốn nhắc đến con số những nạn nhân của Mỹ là bao nhiêu qua mấy trăm năm lịch sử của Mỹ vì có thể ông ta không biết đến. Chỉ kể nguyên trên đất Mỹ thì người da trắng, con dân Chúa cao quý, đã cướp hết đất đai của người da đỏ và thi hành chính sách diệt chủng đối với người da đỏ và cưỡng bách người da đỏ phải theo cái đạo cao quý cầm đầu bởi Chúa lòng lành vô cùng của họ. Từ 1620 đến 1890, trong vòng 270 năm, những con cái của Chúa đã giảm dân số dân da đỏ từ 15 triệu xuống còn dưới 250000, và biến miền đất phì nhiêu của dân da đỏ thành “Tân Thế Giới” của người da trắng, do người da trắng (Christophe Columbus) tìm ra. Nhiều người da đỏ ngày nay nuốt nước mắt, không biết làm gì hơn là uống rượu để giải sầu. (Professor Ward Churchill, Sacramento Bee, Nov.23, 2000: Does anyone expect us (the Indians) to give thanks [on Thanksgiving day] for the fact that soon after the Pilgrim fathers regained their strength, they set out to dispossess and exterminate the very Indians who had fed them that first winter? Is it reasonable to assume that we might be jubilant that our overall population, numbering perhaps 15 million at the ouset of the European invasion, was reduced to less than a quarter- million by 1890?). Đóng ngoặc.

    Nhưng qua câu nói trên của ông Bush về những nạn nhân của Cọng sản, vấn đề là con số 100 triệu từ đâu mà ra, các sử gia trên thế giới là ai, và nạn nhân của Cọng sản là những ai. Chẳng cần phải nói, ai cũng biết đó là con số mà Stéphane Courtois đưa ra trong cuốn “Le Livre Noir Du Communisme”. Đó là con số mà Courtois đã phóng đại quá lố như chính một số đồng tác giả của ông ta trong cuốn sách trên đã phê bình:

    Trong phần Dẫn Nhập, Stéphane Courtois đưa ra con số 1 triệu nạn nhân của chính sách khủng bố của CS Việt Nam đối với chính dân của mình. Con số này lấy ở đâu ra, và có thực tế hay không? Jean-Louis Margolin, tác giả viết 10 trang về Việt Nam, đã công khai tố cáo Stéphane Courtois là bịa ra con số 1 triệu ở Việt Nam trong sự ám ảnh để đi tới mục tiêu là tổng số 100 triệu nạn nhân trên thế giới của Cộng Sản [Jean-Louis Margolin explique «qu'il n'a jamais fait état d'un million de morts au Vietnam», contrairement à ce qu'écrit Courtois.] Mặt khác, 3 tác giả trong cuốn sách trên cũng đã chính thức lên tiếng trước công luận phản đối Chương Dẫn Nhập của Stéphane Courtois, không chấp nhận những gì Stéphane Courtois viết để đánh đồng chính sách diệt chủng của Đức Quốc Xã với sự đàn áp dưới chế độ Stalin, và những con số phóng đại phi lý của Stéphane Courtois trong Chương này. [La moitié des auteurs — Nicolas Werth, Jean-Louis Margolin et Karel Bartosek — ont protesté publiquement contre le chapitre introductif de Stéphane Courtois, ils y refusent son rapprochement du génocide nazi et de la répression stalinienne, ainsi que le calcul du nombre de victimes, dont ils contestent à la fois l’opportunité et les chiffres utilisés, qui pour certains sont leurs chiffres mais augmentés sans raison par Courtois.] Những sự kiện này chứng tỏ Stéphane Courtois không có mấy lương thiện trí thức, và con số 1 triệu nạn nhân của CS Việt Nam chỉ là một con số bịa đặt quá lố, không có bất cứ một giá trị nào. Nó thuộc loại những con số tuyên truyền của Việt Nam Cộng Hòa và Mỹ về con số nạn nhân trong cuộc Cải Cách Ruộng Đất ở ngoài Bắc, dựa trên con số đoán mò mà Hoàng Văn Chí đã thú nhận sau khi bị Gareth Porter công bố sự ngụy tạo của Chí [The Political Economy of Human Rights : Volume I, p. 343 : Chi eventually conceded to be merely a « guess »..This admission came after Porter had made Chi’s falsifications public]

    Ngoài ra, giống như những luận điệu chống Cộng của một thiểu số người Việt ở hải ngoại, mọi việc bất hạnh và tệ đoan xã hội xảy ra trong các xã hội Cộng sản đều đổ lên đầu Cộng Sản, các tác giả cũng quy kết những người chết trong những nạn đói ở Nga, ở Tàu cũng đều là do tội ác của Cộng sản gây ra.

    Màn Kịch 2 của DVD “Sự Thật Về Hồ Chí Minh”

    Bỏ qua một hình ảnh về những thuyền nhân bỏ nước ra đi sau 1975 với một câu “tố Cọng” rất cường điệu và láo lếu: “Toàn dân thù hận đến độ 2 triệu người phải bỏ nước ra đi”, một hình ảnh chẳng dính dáng gì đến cái gọi là “Sự thật về Hồ Chí Minh”, chúng ta hãy sang phần đầu của nội dung “Sự thật…” [Ông Hồ Chí Minh chết năm 1969].

    Màn Kịch 3 của DVD “Sự Thật Về Hồ Chí Minh”.

    Những người làm DVD đặt nghi vấn về năm sinh, ngày sinh và ngày chết của Hồ Chí Minh. Đây có phải là những yếu tố quan trọng để đánh giá con người Hồ Chí Minh hay không? Ông Hồ sinh năm 1890, hay 1892, hay 1895? Vậy thì sao ?? Ông Hồ không sinh ngày 19 tháng 5? Vậy thì sao ?? Hiện nay, Chúa Giê-su của hơn 1 tỷ người thờ phụng ông ta nhưng không có một học giả nào trên thế giới biết được ngày sinh hay năm sinh của Giê-su. Người ta đã mượn ngày 25 tháng 12, ngày Đông Chí theo lịch cổ xưa tính sai, một ngày lễ của dân gian, để làm ngày “giáng sinh” của Giê-su. Vậy mà ngày nay hàng năm cứ đến ngày 25 tháng 12, tín đồ Ki Tô Giáo lại rầm rộ chăng đèn kết hoa tổ chức ăn mừng “giáng sinh” mà thật ra không phải là “giáng sinh”. Vậy thì sao? Có ai thắc mắc gì không? Vậy tại sao lại thắc mắc về ngày sinh cũng như năm sinh của ông Hồ? Có thể chứng tỏ được gì? Những chi tiết này nằm trong lãnh vực nghiên cứu của các học giả, có thể là một chi tiết nằm trong một tác phẩm nghiên cứu về nhân vật Hồ Chí Minh, nhưng nó chẳng nói lên được điều gì ngoài yếu tố nghiên cứu chính xác lịch sử trong lãnh vực học thuật, chứ không thể dùng nó trong những mưu đồ chính trị để hạ bệ ông Hồ. Người dân, nhất là nông dân, cũng như tôi, có ai quan tâm đến ngày sinh của ông Hồ là ngày nào. Ông Hồ muốn sinh ngày nào cũng được, điều quan trọng là ông đã làm gì cho đất nước. Những người làm DVD không hiểu được những điều này hay sao?

    Rồi lại có ông Nguyễn Văn Trần ở Pháp khẳng định rằng ngày ông Hồ chết là ngày 2 tháng 9 chứ không phải là ngày 3 tháng 9 như đảng đã tuyên bố, rồi cho rằng đó là sự dối trá “phản khoa học và phản văn hóa” [sic]. Nhưng chuyện này đâu có gì là lạ, vì Duiker đã viết tại sao đảng lại lui ngày chết của ông Hồ 1 ngày.

    Duiker viết, trang 566:

    Đảng cũng tuyên bố là ông Hồ chết ngày 3 tháng 9, một ngày sau ngày ông Hồ thật sự chết, để giữ tâm tình của quần chúng trong ngày lễ độc lập của quốc gia vào ngày 2 tháng 9, 1945, khi ông Hồ đọc bản tuyên ngôn độc lập ở quảng trường Ba Đình.

    [The Party also announced that Ho had died on September 3, one day later than its actual occurrence, in order to prseserve the mood of the national holiday of independence, which celebrated the anniversary of September 2, 1945, when Ho Chi Minh had read the Declaration of Independence in Ba Dinh Square.]

    Và chính ông Nguyễn Văn Linh cũng đã nói rõ:

    Chủ tịch Hồ Chí Minh qua đời lúc 9 giờ 47 phút ngày 2 tháng 9 năm 1969, ngày Quốc khánh của nước ta. Để ngày Bác mất không trùng với ngày vui lớn của cả dân tộc, Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa III) đã quyết định công bố Chủ tịch Hồ Chí Minh mất vào lúc 9 giờ 47 phút ngày 3-9-1969. Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa VI) cho rằng nay cần công bố lại đúng ngày Chủ tịch Hồ Chí Minh qua đời.

    Đây là một việc làm có mục đích hẳn hoi, và mục đích đó là vì lợi ích của toàn dân chứ không phải vì lợi ích của cá nhân Hồ Chí Minh, thì có gì là một sự gian dối “phản khoa học và phản văn hóa”? và gian dối để làm gì, không thấy ông Trần nói. Mấy ông không theo dõi thời cuộc, cứ mang một điều cũ kỹ đã được sửa lại ra để nói bậy.

    Màn Kịch 4 của DVD “Sự Thật Về Hồ Chí Minh”

    DVD nêu vấn đề về ông Nguyễn Sinh Sắc [hay Nguyễn Sinh Huy ?], thân phụ của ông Hồ. Ông Sắc [Huy] từ quan hay bị cho về vườn? Ông Trần Gia Phụng cho rằng, vì một thuộc hạ của ông Huy đánh chết người nên ông Sắc bị triều đình phạt đánh 100 roi sau hạ bản án là cho về vườn. Ông Lữ Phương viết:

    Nguyễn Sinh Huy đậu phó bảng năm 1901; 1906 vào Huế nhậm chức thừa biện Bộ Lễ; 1909 được cử làm tri huyện Bình Khê (tỉnh Bình Định), nhưng chỉ 7 tháng sau, tháng 1-1910, thì bị bãi chức và bị triệu hồi về Huế. Lý do: theo Sở mật thám [Pháp] ông đã uống rượu say và đánh chết người. [Tại sao sở mật thám Pháp lại quan tâm đến một vụ “đánh chết người” ở một Huyện. Rõ ràng là Pháp đã nghi ngờ ông Huy và muốn loại bỏ ông Huy. Điều này phù hợp với tài liệu của Pháp mà Giáo sư Sophie Quinn-Judge cho biết khi nói về gia đình ông Huy ở phần sau. TCN. ]

    Nguyễn Sinh Huy phản bác (thừa nhận có đánh một tù nhân, nhưng cho rằng cái chết không phải do roi của ông), tuy thế do xét nghiệm cho biết người bị đánh đã phát bệnh mà chết, nên ông vẫn bị giáng bốn cấp và bãi chức.

    Mục đích của DVD? Chứng tỏ ông Huy không phải là người yêu nước mà từ quan, vậy thì ông Hồ cũng không phải là người yêu nước. Nhưng, bất kể là ông Huy từ chức hay bị cho về vườn, gia đình ông Huy là một gia đình yêu nước, điều này không ai có thể phủ nhận. Trước một câu hỏi của đài BBC, ban tiếng Việt, về ảnh hưởng của thân phụ đối với ông Hồ, Giáo sư Sophie Quinn-Judge [khá giỏi tiếng Việt] đã trả lời như sau:

    Sophie Quinn-Judge: Cha của ông Hồ là một nhân vật rất đáng chú ý và tôi hi vọng sẽ có thêm tài liệu nghiên cứu tiếng Việt để hiểu rõ hơn thân thế của người này. Nhưng rõ ràng là việc người cha bị thất sủng, không còn là quan cấp tỉnh trong chế độ Pháp đã có tác động đến cuộc sống ông Hồ. Bởi sau khi ông Nguyễn Sinh Huy bị miễn nhiệm tại tỉnh Bình Định, con ông là Nguyễn Tất Thành buộc phải thôi học ở trường Quốc học Huế và trở thành thầy giáo tại Phan Thiết. Rồi ông vào Nam và như mọi người đều biết, ông đi Pháp năm 1911. Nếu cha ông vẫn còn tại chức, thì có lẽ người thanh niên Nguyễn Tất Thành đã tiếp tục đi học ở Huế và sự nghiệp chống thực dân của ông có thể đã ngả sang một hướng khác. Chúng ta không biết chắc, nhưng những hoàn cảnh bên ngoài đã buộc ông phải ra nước ngoài.

    Với câu hỏi tiếp của BBC:

    BBC: Bà ngụ ý là ban đầu ông Hồ ra nước ngoài không phải với mục đích tìm đường cứu nước?

    Sophie-Quinn Judge: Không, ý tôi không phải là như thế. Dựa trên tài liệu của Pháp nói về các anh chị trong gia đình ông Hồ và những lần họ giúp đỡ cho Phan Bội Châu, tôi nghĩ gia đình họ tham gia vào các hoạt động yêu nước chống thực dân từ sớm. Tôi tin là ông Hồ Chí Minh cũng sẽ tham gia vào các hoạt động chống thực dân theo cách này hay cách khác. Nhưng bởi vì ông không thể ở lại trường Quốc học, nên ông ra nước ngoài để tìm biện pháp hoặc học thêm để nghĩ cách chống người Pháp.

    Trên đây là những nhận định rất nghiêm túc của một học giả cỡ Giáo sư Sophie Quinn-Judge, người không có lý do gì để thương hay ghét ông Hồ Chí Minh mà chỉ đi tìm sự thật lịch sử. Nhưng quan điểm trên không đơn giản như vậy. Theo tài liệu phân tích của Jules Archer trong cuốn “Ho Chi Minh” thì ông Hồ cho rằng Việt Nam không thể tự lực đánh đuổi được thực dân Pháp mà phải có sự trợ giúp ở bên ngoài. Nhưng ông Hồ không đồng ý với các ông Phan Bội Châu và Phan Chu Trinh, tìm sự trợ giúp ở Đông phương như của Nhật Bản hay Trung Hoa. Ông Hồ thấy xã hội Tây Phương tân tiến hơn nhiều về những vấn đề xã hội như tự do, nhân quyền, bình đẳng v..v…, do đó ông Hồ tìm đường trợ giúp từ Tây Phương, với hi vọng có thể những tư tưởng cách mạng của Pháp năm 1789 có thể áp dụng cho Việt Nam.

    [Archer, p.6: He (Ho) decided against joining Phan Boi Chau’s group in Canton, reasoning that the new Chinese Republic would be far to feeble to offer much practical help. Some rebel exiles had gone to Japan; but in Ho’s eyes, expecting aid from Japan’s militarists was to “hunt the tiger and be eaten by wolves”

    Who would be more likely to sympathize with the ideals of independence, freedom and democracy, he reflected, than the nations of the West? They, after all, had governments based on the sovereignty of the people. So it was in the West, rather than the East, that he decided to seek help.]

    Màn Kịch 5 của DVD “Sự Thật Về Hồ Chí Minh”

    DVD đưa ra một tài liệu, bức thư của Hồ Chí Minh xin học ở trường thuộc địa, và đã bị giám đốc trường nầy từ chối không cho học, để chứng minh rằng mục đích của ông Hồ không phải là xuất ngoại để cứu nước mà để tìm đường làm ăn. Bức thư được ông Nguyễn Gia Phụng dịch ra tiếng Việt và đọc trong DVD. Nhưng đưa ra tài liệu này, những người làm DVD không nghĩ đến phản tác dụng của nó. Thứ nhất, họ không tìm hiểu tại sao giám đốc trường thuộc địa lại từ chối đơn xin học của ông Hồ với lý do rất đáng buồn cười: “Mục đích của ông tới đây là để kiếm sống chứ không phải là để đi học” Ở trên đời này có trường nào bác đơn xin học của một sinh viên với lý do là anh ta không có ý định đi học không? Sở dĩ trường thuộc địa bác đơn xin học của ông Hồ vì trong đơn ông Hồ “đã dại dột” viết rõ là mục đích của ông là có thể dùng nền học vấn để giúp ích cho đồng bào của ông, để cho họ được hưởng những hữu ích của nền học vấn mà ông thu thập được [“Je désirerais devenir utile à la France vis à vis de mes compatriotes et pouvoir en même temps les faire profiter des bienfaits de l’instruction”]. Những người chống Cọng quê mùa thường bỏ đi đoạn sau trong câu trên và diễn giải là ông Hồ xin học trường thuộc địa để phục vụ cho Pháp (utile à la France). Nhưng một người như ông Hồ, thuộc một gia đình yêu nước chống Pháp, thì “phục vụ cho Pháp” không thể tương hợp với “phục vụ đồng bào”. Đó chỉ là một câu để có thể xin vào học trường thuộc địa. Trường thuộc địa là để đào tạo những tay sai phục vụ cho nước Pháp, chứ không phải để phục vụ cho dân thuộc địa. Giám đốc trường thuộc địa không phải là không biết điều này, nên đã từ chối với một lý do vốn không phải là lý do, vì nó rất vô lý. Những người muốn hạ bệ ông Hồ về một bức thư xin học trường thuộc địa không đủ trí tuệ để thấy sự phản tác dụng khi đưa ra tài liệu này.

    Màn Kịch 6 của DVD “Sự Thật Về Hồ Chí Minh”

    Tiếp theo, DVD bàn đến chuyện phòng the của ông Hồ. Trên thực tế thì từ ngày ông làm Chủ Tịch nước, chúng ta không thấy bóng dáng người đàn bà nào bên ông. Trong hậu trường thì chúng ta không biết. Nhưng vấn đề là, ông Hồ có vợ, có con? Vậy thì sao? Người dân chỉ quan tâm đến chuyện ông thuộc một gia đình yêu nước, bà chị bị chết trong tù vì tội ăn cắp súng của Pháp, và ông cùng các đồng chí đã mang lại độc lập cho nước nhà, chiến thắng trong hai cuộc chiến chống Pháp và chống Mỹ.. Ông Ngô Đình Diệm cũng có vợ có con dù người ta đã khoác vai trò độc thân lên người ông ta. Có sao đâu? Người dân chỉ quan tâm đến chuyện ông Diệm thuộc gia đình “tam đại Việt Gian”, trong khi toàn dân kháng chiến thì nằm chui trong mấy tu viện Công giáo ở ngoại quốc, sau đó được Mỹ bưng về thì trở thành “chí sĩ bao năm lê gót nơi quê người để tìm đường cứu nước” [sic], và khi cầm quyền ở Việt Nam thì thi hành một chính sách ngu xuẩn, cuồng tín, gia đình trị, tôn giáo trị. Lôi những chuyện lặt vặt vợ con, bỏ qua những chuyện quan trọng hơn, lớn hơn, có tầm vóc quốc tế, để nói về những “sự thật” về một nhân vật quốc tế như ông Hồ, thì đầu óc của những người làm DVD và cộng tác quả thật là quá hẹp hòi. Dù ông Hồ có vợ nhưng chắc chắn điều đó không có ảnh hưởng gì đến nhiệm vụ của ông ta đối với dân tộc, quốc gia. Một thí dụ: Khi nghe tin người anh cả chết, ông Hồ đã viết thư tỏ ý rất tiếc là không thể về dự đám tang và xin lỗi gia đình vì “đã đặt việc nước trước việc nhà” [Archer, p. 53: “I humbly apologize for this failure in brotherly devotion, and beg to be forgiven as one has to put affairs of state before family feelings.”] Đối với tôi, chuyện ông Hồ có vợ hay không, không phải là chuyện tôi cần để ý. Nhưng tôi cảm thấy tội nghiệp cho những người làm DVD vì trong cuốn “Ho Chi Minh: A Life” của William J. Duiker, dày hơn 600 trang, mà chỉ đưa ra một tài liệu là trong đời ông Hồ đã có bóng dáng của 5 người đàn bà, trong khi trong đó có cả ngàn “sự thật về Hồ Chí Minh” to lớn hơn nhiều thì bỏ qua. Người Việt Nam chẳng có ai coi ông Hồ là thánh, chẳng có mấy người coi ông Hồ là một “thần tượng”, bất kể đảng nói gì về ông Hồ. Người dân chỉ coi ông Hồ đơn giản là “Bác Hồ”, và chừng đó cũng đủ. DVD cũng phỏng vấn Giáo sư Sophie-Quinn Judge về vai trò của Tăng Tuyết Minh trong đời ông Hồ. Nhưng cũng như Duiker, trong cuốn “Ho Chi Minh: The Missing Years” của Giáo sư Judge có nhiều “sự thật về Hồ Chí Minh” to lớn và quan trọng hơn nhiều, và lẽ dĩ nhiên, những người làm DVD cũng không muốn nhắc tới. Trong phần cuối của bài này tôi sẽ trích dẫn một vài đoạn ngắn của hai tác giả trên về ông Hồ.

    Màn Kịch 7 của DVD “Sự Thật Về Hồ Chí Minh”.

    Vấn đề tiêu diệt các đảng phái quốc gia với những lời “tố Cọng” quen thuộc của Bùi Diễm, Trần Gia Phụng, Nguyễn Tường Bách. Bỏ qua, vì thời Đệ Nhất Việt Nam Cộng Hòa đã qua lâu rồi.

    Màn Kịch 8 của DVD “Sự Thật Về Hồ Chí Minh”.

    Vấn đề “cải cách ruộng đất” với Nguyễn Minh Cần, Dương Thu Hương, Trần Mạnh Hảo, Vũ Thư Hiên kể chuyện cổ tích, không phân biệt nổi đâu là chính sách và đâu là những sai lầm trong khi thực hành. Con số người bị giết trong DVD là trên 170 ngàn, viện dẫn con số của chính CS đưa ra, nhưng xuyên tạc, vì con số này là tổng số những người bị quy vào hàng địa chủ chứ không phải là số người bị giết.

    Chắc chắn là mấy ông bà này chưa hề đọc đến những công cuộc khảo cứu rất sâu rộng về Cải Cách Ruộng Đất ở Việt Nam: Mục đích, kết quả, số nạn nhân v..v.. của Gareth Porter, Edwin E. Moise, Noam Chomsky và Edward S. Herman. Rất có thể họ chỉ tin vào con số đoán mò của Hoàng Văn Chí, người đã thú nhận là con số nạn nhân trong cuộc cải cách ruộng đất chỉ là đoán mò sau khi bị Gareth Porter công khai vạch ra những sự giả mạo trong tài liệu của Chí [Chi eventually conceded that his number of victims of the land reforms to be merely a “guess” (The Washington Post, 13 September, 1972). This admission came after Porter had made Chi’s falsification public.] và đã có lần Minh Võ đưa ra con số người bị giết trong cuộc cải cách ruộng đất là “nửa triệu”. Vậy giá trị trí thức của Hoàng Văn Chí và Minh Võ là ở chỗ nào?

    Theo những tài liệu của Noam Chomsky và Edward S. Herman cũng như của Gareth Porter và Edwin E. Moise thì Hoàng Văn Chí vốn là một địa chủ ở ngoài Bắc, sau đó làm cho Bộ Thông Tin của Chính Quyền miền Nam, rồi làm việc cho CIA và làm thông dịch viên cho Cơ Quan Thông Tin Hoa Kỳ. Trong bài “The Myth of the Bloodbath: North Vietnam’s Land reform Reconsidered” (Bulletin of Concerned Asian Scholars, September 1973, pp. 2-15), Gareth Porter đã vạch ra vài đoạn Hoàng Văn Chí dịch sai bài thú nhận có sai lầm trong việc thi hành cải cách ruộng đất của Tướng Võ Nguyên Giáp với mục đích giúp quan thầy Mỹ và miền Nam tuyên truyền xuyên tạc.

    Noam Chomsky và Edward S. Herman còn vạch ra rằng, trong những cuộc phỏng vấn vào năm 1955, Hoàng Văn Chí không hề nói gì đến cuộc cải cách ruộng đất và con số những nạn nhân. Chỉ trong vài năm sau, sau khi Mỹ và Saigon biết đến những vấn đề trong cuộc cải cách ruộng đất từ chính những cuộc thảo luận trên báo chí ở Hà Nội mà Moise cho là “thẳng thắn kỳ lạ trong sự thảo luận những sai lầm và thất bại” (sometimes extraordinarily candid in discussing errors and failures), Chí mới “nhớ lại” những điều viết trong tài liệu của mình. Do đó, chỉ nhờ vào những thông tin của chính Bắc Việt cho nên Mỹ và Nam Việt Nam mới dựa vào đó để mà thổi phồng con số cho mục đích tuyên truyền, chứ thực ra Mỹ và chính quyền miền Nam chẳng biết gì về cuộc cải cách ruộng đất ở ngoài Bắc.

    Noam Chomsky và Edward S. Herman viết trong cuốn The Political Economy of Human Rights, Vol. I, South End Press, Boston, 1979, trang 342:

    “Nguồn thông tin căn bản về những con số giết chóc lớn trong cuộc cải cách ruộng đất ở Bắc Việt là từ những người của CIA hoặc Bộ Thông Tin Tuyên Truyền Saigon. Theo một người Việt Công giáo nay sống ở Pháp, Trung Tá Nguyễn Văn Châu, Chỉ Huy Cơ Quan Chiến Tranh Tâm Lý Trung Ương của quân đội Saigon từ 1956 đến 1962, số nạn nhân bị “tắm máu” trong cuộc cải cách ruộng đất là “100% dựng lên” bởi cơ quan tình báo Saigon. Theo Trung Tá Châu, một chiến dịch có hệ thống dùng các tài liệu ngụy tạo để bôi nhọ đối phương được thi hành vào giữa thập niên 1950 để biện minh cho sự kiện là Diệm từ chối không thương thuyết với Hanoi trong việc sửa soạn tổ chức cuộc bầu cử để thống nhất đất nước quy định vào năm 1956.”

    (The basic sources for the larger estimates of killings in the North Vietnamese land reform were persons affiliated with the CIA or the Saigon Propaganda Ministry. According to a Vietnamese Catholic now living in France, Colonel Nguyen Van Chau, head of the Central Psychological War Service for the Saigon Army from 1956 to 1962, the “bloodbath” figures for the land reform were “100% fabricated” by the intelligence services of Saigon. According to Colonel Chau, a systematic campaign of vilification by the use of forged documents was carried out during the mid-1950s to justify Diem’s refusal to negotiate with Hanoi in preparation for the unheld unifying elections originally scheduled for 1956)

    Giáo sư sử học James P. Harrison cũng viết trong cuốn The Endless War: Vietnam Struggle For Independence, Columbia University Press, 1989, trang 149:

    “Tuy nhiên, những cuộc nghiên cứu kỹ về sau đã ước tính là con số những người bị giết trong cuộc cải cách ruộng đất ở ngoài Bắc là vào khoảng 1500 cộng với 1500 bị cầm tù, theo một tác giả, hoặc có thể lên tới 15000 theo một tác giả khác, và do đó hầu hết những con số tuyên truyền của Saigon về vấn đề này là những con số phóng đại nếu không phải là hoàn toàn dựng đứng.” (Careful later studies, however, have estimated that the true figures for those executed in the noerthern land reform may have been more like 1500 plus 1500 jailed according to one, or possibly up to 15000 killed according to another, and therefore that most of Saigon’s propaganda on the subject was exaggerated if not a “total fabrication”.)

    Giáo sư Pierre Brocheux viết trong bài “Con Người Trở Thành Hồ Chí Minh” [L’Homme qui devint Ho Chi Minh] trang 34:

    “Đối với Hồ Chí Minh, tập thể hóa đất đai là sự bảo đảm phân chia đồng đều tài sản. Nhưng ông ta tố cáo sự dùng những hành phạt thể xác đối với các địa chủ và các nông dân giàu có và yêu cầu thi hành một chương trình sửa sai những sự bất công và phục hồi những sở hữu của nông dân thuộc quyền của họ (1956). Nhưng ông ta phải nhượng bộ trước đa số trong Đảng. Chiến dịch cải cách ruộng đất làm cho ít nhất là 15000 người chết.” (Pour Ho Chi Minh, la collectivisation des campagnes est la garantie d’une répartition égalitaire des resources. Mais il dénonce l’utilisation des peines corporelles contre les “propriétaires fonciers et riches paysans” et demande une programme de correction des injustices et la restauration des paysans propriétaires dans leurs possessions et leurs droits (1956). Il s’incline pourtant devant la majorité du Parti. La réforme agraire côutera la vie à 15000 personnes au moins.)

    Về con số nạn nhân trong cuộc cải cách ruộng đất, chúng ta có một số tài liệu khác: Của Gareth Porter: từ 800 đến 2500; của Edwin E. Moise (sau một công cuộc nghiên cứu sâu rộng hơn): vào khoảng 5000 và chắc chắn trong khoảng từ 3000 đến 15000; của Trương Như Tảng, David Chanoff và Đoàn Văn Toại trong cuốn “A Viet Cong Memoir”: nhiều ngàn (thousands); của Bùi Tín trong Mặt Thật: “lên tới mười mấy ngàn”; của Vũ Thư Hiên: từ 4000 đến 5000. Chúng ta không thể biết chính xác con số bị giết trong cuộc cải cách ruộng đất. Nhưng xét đến số làng mạc, ruộng đất ở ngoài Bắc, số địa chủ thực sự, số nông dân nghèo khổ phải thuê đất [một số của Nhà Chung] để cầy cấy v..v.. thì những con số trên hợp lý hơn là con số trên 170 ngàn, nghĩa là thổi phồng từ 1133% đến 34000%, trong DVD.

    Trên diễn đàn Đông Dương Thời Báo, tháng 5, 2006, chúng ta có thể đọc một đoạn về cải cách ruộng đất của chủ biên người Công Giáo, Giu-se Phạm Hữu Tạo, như sau:

    Thật vậy, Hồ Chí Minh thực hiện cải cách ruộng đất, muốn lấy lại đất mà không phải giết nhiều người, vì lúc đó các địa chủ có tiền bạc tài sản, chạy thoát trước về vùng Pháp chiếm đóng… Cải cách ruộng đất là việc phải làm ở trong Nam cũng như ngoài Bắc. Phải lấy lại đất của Pháp, của nhà Chung để chia cho cán bộ và nông dân có sức lực và siêng năng cần cù mà không có đất để sống và cày bừa và hy sinh cho cách mạng quyết dành chủ quyền – độc lập – thống nhất đất nước … Chính sách cải cách ruộng đất đương nhiên là đụng đến Giáo hội và giáo dân Công giáo Việt gian, cho nên chúng ta không lạ gì tại sao người Công giáo căm thù CSVN và ngụy tạo bôi đen chính sách Cải Cách Ruộng Đất.

    Trong một cuộc phỏng vấn của đài BBC, trước câu hỏi: “Vậy vai trò của ông Hồ chí Minh trong Cải Cách Ruộng Ðất là gì, theo những gì ông tìm ra? “ , Giáo sư Pierre Brocheux đã trả lời:

    Pierre Brocheux: Hồ chí Minh bị coi là phải chịu trách nhiệm về những sai lầm trong Cải Cách Ruộng Ðất nhưng tôi tìm thấy nhiều tài liệu như các báo cáo chính trị của chính ông, lên án các vụ đánh người, giết người trong Cải Cách. Ông gọi làm như thế là hành xử như ” bọn đế quốc “, rằng đó là những hành vi tội phạm. Ông nói tra tấn người là tội ác.

    CÒN NHIỀU NỮA ĐẤY1

    • mãi là nòi giống Lạc Hồng

      Cám ơn, hay lắm!!!

    • Rất hay, bài viết cho thấy cái đám luôn giương cao cái lá cờ vàng ba sọc rách nát hôi hám ấy nó đê tiện, thối tha như thế nào. Chúng nó luôn chửi cộng sản là gian manh, xảo quyệt ,đổi trắng thay đen nhưng mà chúng nó còn xứng đáng được gọi là sư tổ của mấy danh từ đó.
      Chống cộng mà ngu như chúng nó thì suốt đời cũng chỉ đi làm cu ly cho nước ngoài thôi.

    • Loi` viet’ cua anh lap lo`…..anh la ai ma` thay mat nhan dan tren ta`n (toan`) the’ gioi’ nhoen mieng cuoi`???? tren toan` the’ gioi nguoi vn theo cong san co’ bao nhieu nguoi`???? bang` chun’g moi~ la’ co` cs vua xuat hien thi` bi. ti.t ngoi` ngay….vi` nguoi vn tu do biet qua’ ro~ cong san la` gi`. Rieng ve` 86 trieu nguoi vn co’ bao nhieu nguoi theo congsan? hay la` cac ngai` cong san dung` sung’ AK47 di’ lung tan`(toan`) dan trong nuoc’ chap nhan va thi hanh` theo chinh’ sach rung` ru’ cua CS. Chi? bay’ nhieu thoi nguoi` hieu biet se thay nhu the’ nao`? Dong` bao` o vn nao` tin CS dau ….sau bao nhieu nam son’g va hieu?…..ngay` nay, ho. am tham` ngam ca^m vi` su song’ vi` gia dinh` so lien luy. la` the’. Hay~ nhin` cac’ dan` anh ma` CSVN ton tho` nay da~ ro’t nhu mit’ rung. Tren the’ gioi nay` con` bao nhieu nuoc cong san ????

  73. CHÚNG MÀY KO SỢ THÌ ĐỂ LẠI PHẢN HỒI CỦA TAO SAO CHÚNG MÀY XÓA HẾT CẢ RỒI! PHÁT NGÔN TỰ DO CÁI ĐẦU CHÚNG MÀY Ý! CHO MỖI ĐỨA CHÚNG MÀY CHỈ CẦN 1 PHÁT SÚNG VÀO ĐẦU! BẰNG… CHO CHÚNG MÀY CHẾT ĐI! SAO DÂN TỘC VIỆT NAM LẠI SINH RA NHỮNG CON CHÓ NÀY!

  74. ĐÂY LÀ NHỮNG TRANG BÁO CỦA BỌN PHẢN ĐỘNG! MẤY CÁI THẰNG VỚ VẨN CHÚNG NÓ ĐƯỢC MĨ CHO ĂN CỨT NHIỀU QÚA RỒI! MẤY THẰNG LINH MỤC VỚ VẨN! CHÚA NÀO SINH RA BỌN PHẢN TỔ QUỐC NÀY!” DVD SỰ THẬT HCM ” CHÚNG MÀY XUYÊN TẠC BỪA BÃI!CHÚNG MÀY ĐỪNG HI VỌNG VÌ THẾ MÀ CHÚNG MÀY CÓ THỂ LÀM LUNG NAY LÒNG TIN CỦA NGƯỜI DÂN VIÊT NAM!

  75. Gửi thằng lấy tên Hồ chi Minh Đêp nhất tên người, mầy là thằng con nít nói chuyện ba xàm cái gì, cái trò lường gạt nói láu dơ bẩn này đả xưa quá rồi ai cũng chán ghét dân họ không muốn nói nủa mầy có hiểu không vây,có lẻ trong đầu mầy nhét những thứ loại mà cặn bả của người dân bỏ ra đó, Ông cha Lễ làm như vậy là muốn cho người dân phải nhận xét sự thât và cái XHCH dả dối như thế nào do chính HCM tạo ra,
    mầy nói đúng Bác Hồ vỉ đại ánh sáng xôi, nhưng chỉ xôi dưới đích ngựa, cha Lễ dù có chạy ra nước ngoài xin tiền người Mỹ Họ giúp cho tiền để sống hàng ngày còn cộng sản có cho tiền dân hay không? hây lấy luôn đất của dân bán lại cho ngoai ban hây Tàu Cộng đúng có những người thành phần loại như mầy là thành phản bán tổ Quốc hại dân bán Nước là loại cẩn bả xả hội hùa nhàu hại dân.

    • MÀY NÓI NHƯ CẮN VÀO DIS TAO Ý! CHÚNG MÀY ĂN CỨT CỦA MĨ À! MÀY LÊN NHỚ RẰNG MÀY ĐANG VIẾT BẰNG TIẾNG DÂN TỘC VIỆT NAM ĐẤY! MÀ LOẠI CHÚNG MÀY LÀM GÌ CÓ KHÁI NIỆM DÂN TỘC! MĨ NÓ CHO CHÚNG MÀY ĂN CÚT LÀM CHÚNG MÀY MỜ MẮT RỒI!

  76. HCM là con chó chết sình!

  77. Hoan hô thằng ôsin Hồ Chí Minh, nhờ chủ nghĩa ôsin của thằng ôsin HCM mà dân tộc VN trở thành dân tộc ôsin, lãnh tụ đảng ôsin csvn phải đi ăn mày khắp thế giới.

    Hoan hô thằng ôsin Hồ Chí Minh, nhờ chủ nghĩa ôsin của thằng ôsin HCM mà đảng đoàn ôsin csvn khởi từ Miền Bắc nổi tiếng là tập đoàn “bọn lính cộng nô” nổi tiếng nhất thế giới. Bọn “lính đánh thuê” như bọn VNCH còn thua xa vì hèn vì bọn nầy “nhận tiền thuê”, chớ đảng thằng ôsin HCM chơi ngon hơn, không cần tiền thuê, chỉ cần bo bo của ngựa Nga hay cám lợn của Chệt là tập đoàn ôsin sẵn sàng giết đồng chũng, chẵng những thế lại sẵn sàng dâng đất tặng biển, dâng cống phẩm như tôm, cá, cà phê, gạo … cho chủ Nga Tầu của “lính cộng nô”.

    Hoan hô thằng ôsin Hồ Chí Minh, nhờ thế mà thằng bấn cố nhiều đời của gia tộc Vô danh mới được vang danh ôsin cho Nga Tầu! Thay vì ăn cơm nó nay được ăn cám lợn chệt và kít tầu.

    Hoan hô thằng ôsin Hồ Chí Minh và đoàn đảng đĩ điếm ôsin csvn, nhờ chúng mà VN xuất khẩu đĩ điếm ôsin lao nô đi khắp thế giới mà trong lịch sử VN chưa từng có.

    Miền Nam có Tổng Thống Ngô
    Chết vì dân tộc cơ đồ Việt Nam
    Diệm chẳng muốn làm quan tham
    Cho ngoại bang cưỡi khinh dân Việt mình
    Miền Bắc có thằng Chí Minh
    Việt gian, trí thấp, hại mình, hại dân
    Nó mê “có chức” ôsin
    Cộng nô cho chủ Stalin Nga tồi
    Hồ ngu cùng lũ Việt bồi
    Phản dân, bán nước, giết người Rồng Tiên

    • CHẾT ĐI!

  78. Hàng triệu cánh tây đưa lên ‘
    Hàng triệu người nằm xuống ‘
    làm phân cho cỏ cây ‘
    ba mươi năm chiến tranh dành quyền ‘
    người đi kẻ ở làm mồi cho loài chim cá ‘
    Công dõ tràn xây các biển đông cuối cùng cũng như không ‘
    Hồ khô Đồng cạn BoXit héo mòn ‘
    Ông cha gánh vác non sông, bay giờ biển đông đả mất ‘
    Dân ta gánh vác năm than, mai sau đập nát những kẻ bạo tàn

  79. nho on thang cho de ho chi minh ,nen moi co con di me may sinh ra thang cho dang minh ngu nhu cai dau bo

  80. “Bộ máy tuyên truyền” của CSVN thật lợi hại ngay cả nguyên thủ quốc gia cũng bị họ “lừa”:
    -Cựu Tổng thống Hoa Kỳ Bill Clinton
    http://vietbao.vn/Xa-hoi/Cuu-Tong-thong-Hoa-Ky-Bill-Clinton-Toi-rat-ngac-nhien-vi-su-thay-doi-nhanh-chong-tai-VN/45218734/157/
    -Chủ tịch Uỷ ban châu Âu (EC) José Manuel Barroso
    http://vietbao.vn/Chinh-Tri/Chu-tich-EC-ket-thuc-tot-dep-chuyen-tham-chinh-thuc-Viet-Nam/65113066/96/
    -Kofi Annan
    http://vietbao.vn/The-gioi/Kofi-Annan-se-tham-Van-Mieu-Quoc-Tu-Giam/75002730/159/
    -Cựu Thủ tướng Nhật Bản Shinzo Abe
    http://vietbao.vn/Kinh-te/Thu-tuong-Nhat-Ban-va-phu-nhan-vieng-tham-lang-Bac/40173521/491/
    -Tổng thống Indonesia
    http://vietbao.vn/Chinh-Tri/Tong-thong-Indonesia-vieng-lang-Chu-tich-Ho-Chi-Minh/20442671/96/

    Suốt 8 năm làm tổng thống,CIA ,cố vấn an ninh quốc gia,các học giả…. lừng danh của Hoa Ky không nói cho Bill Clinton về “Sụ thật về HCM ” sao ?

  81. Có 1 vài thắc mắc từ bài viết "PHÁ VỠ 1 HUYỀN THOẠI"

    Ai đó có thể giải thích cho tôi hiểu: Lý do để tin rằng những tin tức thu thập được của đoàn làm phim là hoàn toàn chích xác và không bị cắt đoạn những phần cho là “không cần thiết” để chứng minh những điểm xấu của Hồ Chí Minh? Tôi nghĩ, khi nói dân tộc Việt Nam đang bị làm lưu mờ và che giấu đi cái gọi là “sự thật” gì đó là do CS làm vậy thì lấy gì để chưng minh rằng những điều trên hoàn toàn là sự thật?

  82. Ai đã cả gan dám tiểu vào đầu của thi hài ông Hồ
    Theo tin noi bo 1 thành viên cua UB khoa hoc môi trường VN ,cùng nhóm giáo sư Bykov của Nga kiểm tra thi hài của ông Hồ đã phát hiện trong quan tài lồng kính thủy tinh có số lượng nước màu vàng đọng ,rỉ ra từ thi hài ông Hồ có 1 lượng amoniac(nước tiểu) khá lớn hòa lẫn dung dịch phoocmốn loãng . Khi lật xác ông Hổ nghiêng thì phát hiện thêm vết cắt phía sau cổ thi hài ông Hồ . Theo giám định thì phần thi hài ông Hồ đã bị phân hủy từ 35 % đến 40% .Nếu tái tạo lại thì buộc dùng thêm vật liệu da nhân tạo …
    Nhưng ai đã có ý định cắt phần đầu ông Hồ để làm gì ? và lượng amoniac (nước tiểu ) khá lớn ai đã tiểu hoặc chế vào đầu ông Hồ .Sự việc đã báo cáo lên bộ chính trị và đang điều tra lính canh gác lăng ông Hồ . Thi hài ông Hồ đã được chuyển đi nơi khác và lính canh gác cũng đã thay đổi ,tạm đóng cửa lăng cho đến cuối tháng 10/2009 . Hiện tại đa số đảng viên cs muốn thiêu thi hài ông Hồ làm theo đúng di chúc .nhưng phe bào thủ đã bị áp lực Trung quốc phải bảo quản xác ông hồ như là chiếc phao để tồn tại chế độ cs .Trước đại hội đảng này sẽ còn lắm nhiều xì căn đan .các bạn chờ nhé

  83. Anh bạn Quanglongpkthbui, anh noi chuyện đã lộ ra cái bản tánh du con rồi đó, bợi vậy cái xã hội VN ngày nây là vậy dậy cho anh là dùng từ ngữ nhũng côn đồ đến nổi hiệu trưởng ep gái dưới vị thanh niên bán trinh còn anh là người dùng từ ngừ của Đảng HCM dậy anh như vậy mới đúng là XHCH tiếng lên ăn cướp và dùng thứ mât dậy kém văn hoa quá XHCHN là vậy đó bà con ơi.

  84. GŨI ANH YOUTAMOUTECHI TRONG ĐÂU ANH KHÔNG BIÊT NHÉT CÁI GI Ở TRONG ĐÓ, VẬY MÀ NÓI MỘT NGƯỜI KHÔNG CÓ GIA ĐÌNH RIÊNG CẢ ĐỜI CHỈ BIÊT GIẢI PHÓNG DÂN TỘC, VẬY BÀ NGUYỄN THỊ MINH KHAI LÀ AI, VÀ BÀ NÔNG THỊ XUÂN, NHỮNG NGƯỜI NẦY VỢ HÂY LÀ ĐỈ CỦA ÔNG HỒ VAY, BÁN NƯỚC VẬY MÀ NÓI CẢ ĐỜI GIẢI PHÓNG DÂN TỘC, ĐUNG RỒI PHẢI CỐ GIÊT NGUÒI CẢI CÁCH RUỘNG ĐẤT THẢM SÁT TẾT MẬU THÂN XUA QUÂN CHIẾM MIÊN` NAM ĐUA ĐI HỌC CẢI TẠO, CƯỠNG ÉP ĐI KINH TẾ MỚI NGƯỜI CHÊT NGOÀI BIỂN, BAY GIỜ THÌ DÂN BỊ CƯỠNG MẤT ĐÂT, HOÀNG SA VA TRƯƠNG SA THÌ BÁN CHO TÀU CỘNG, GÁI ĐI RA NƯƠC NGOÀI LÀM ĐỈ, LAO CÔNG RA NƯỚC NGOÀI LÀM NÔ LỆ, TRẺ EM THÌ HIỆU TRƯỞNG ÉP ĐI BÁN TRINH ÉP BỨC NHỮNG NGƯỜI ĐỒI CÔNG BẰNG, CAC NHÀ BÁO THÌ BỊ BẮT, VÂY MÀ ĐI TÔN THỜ MỘT CON ÁC QUỶ, ANH CŨNG KHÔNG KHÁC GI MỘT BÈ LŨ, HUY VỌNG MỘT NGÀY TỐT ĐẸP BÌNH MINH ĐEM LẠI ÁNH SÁNG CHO DÂN TỘC ĐẤT VIÊT.

  85. Một người không có gia đình riêng, cả đời chỉ biết làm việc vì sự nghiệp giải phóng dân tộc, là lãnh tụ của một nước mà khi chết đi của cải riêng chẳng có gì đáng giá ngoài mấy quyển sách,mấy bộ đồ kaki…Thử hỏi trên đời này có vị lãnh đạo nào trong sạch hơn Hồ Chí Minh ?
    Vì thế mọi trò bôi nhọ ông ấy chỉ là hành động của mấy kẻ mất trí loạn óc mà thôi!
    Các vị đánh không đúng chỗ rồi. Thôi , không muốn quay về quê hương thì hãy yên lặng sống nốt cuộc đời tha hương cầu thực rồi gửi xương xứ nguời cho rồi.

  86. BÁN ĐẢO BÁN ĐẤT, ĐƯƠNG NHIÊN NƯỚC MẠNH, DAN NGHÈO ĐI XIN ĂN, ĐƯƠNG NHIÊN DÂN GIÀU, GÁI ĐI RA NƯỚC NGOÀI LÀM ĐỈ, LAO CÔNG THI LAM NO LÊ, TRẺ EM THÌ BÁN TRINH, ĐẤT CUA DÂN THÌ BỊ CƯỚP NHÀ BAO THI BI BẤT, ĐƯƠNG NHIÊN LÀ DÂN GIẦU, XÃ HÔI NHƯ VÂY MAU MAU MÀ TIẾN LÊN CHÚC ANH CẦM CAI GÁO MÀ ĐI XIN ĂN.

  87. Nguời có học , có đức phải thể hiện ra nhận thức và sự hiểu biết nhất định.Mấy nguời thảo luân tự do trên Intơnet sao mà cục cằn thô lỗ thế.Thế nào là Việt gian,thế nào là phản động cũng không biết thì tranh luận làm gì?
    Duới sự lãnh đạo của đảng CSVN và cụ Hồ lãnh tụ vĩ đại của dân tộc VN đã đánh thắng 2 đế quốc xâm luợc lớn nhất hành tinh giành lại độc lập,thống nhất đất nuớc và xây dựng Tổ quốc theo huớng XHCN với mục tiêu dân giầu nuớc mạnh xã hội công bằng dân chủ văn minh. ngày nay VN đã thay đổi về mọi mặt ,đời sống nhân dân từng buớc cải thiên,hội nhập và vị trí trên truờng quốc tế đáng kính nể.
    Lá cờ đỏ sao vàng tung bay tại trụ sở LHQ với cuơng vị ủy viên không thuờng trực HĐBA LHQ nhiều nuớc mơ không đuợc.
    Không ai có thể phủ nhận ! Vì sao một số ít nguời Viêt nhất là số sống lưu vong chống lại tổ quốc,phản lại nhân dân đồng bào mình và tự hạ thấp dân tộc mình ,thua kém dại dột không khôn ngoan bằng các sắc tộc da đen châu phi còn lạc hậu hơn dân tộc mình hay những nguời kiều dân gốc Hoa,nguời Ấn ,nguời CPC, Lào ….vậy nếu gọi Việt gian thì phải gọi chính số ít,ngu dốt ấy. Sao lại gọi 86 triệu dân trong quốc nội là Việt gian? Một số nguời do nhiều lý do đã nhen nhóm thành các tổ chức lưu vong chống lại đất nuớc ,nhân dân mình thì gọi là các tỏ chức phản động lưu vong mới đúng chứ .Hầu hết những nguời này đều thuôc lớp nguời cặn bã,bệnh hoạn ,lưu manh cơ hội chính tri,ban thân hoặc gia đình có nợ máu với nhân dân hoặc chiêu hồi chiêu hàng địch trong kháng chiến, pham tội bị đi cải tạo đuơc khoan hồng nay sống lưu vong, lợi dung tự do của nuớc sở tại nhen nhóm kết nối nhau chống đất nuớc,xuyên tac để đánh lừa dư luận .Nói chung tuyệt đại đa số kiều bào đều cảnh giác, huớng về Tổ quốc, một số không hiêu biết, nhẹ dạ bị lôi kéo nhưng không nhiều đi tham gia biểu tình chống VN nhưng cũng chẳng ai để ý vì chuyện chúng làm đã thành nhàm ở hải ngoại rồi.
    CĐV cabramatta NSW 2166

  88. ANH MỚI LÀ DÂN NGU CU ĐEN ĐẦU ĐƯỜNG SÓ CHỢ CHÍNH LÀ ANH ĐÓ, KHÔNG BIẾT TRẮNG ĐEN, PHẢI TRÁI CHỈ BIẾT TÔN THỜ MỘT CÁI XÁC THÚI MÀ HẬU THẾ CỨ QUYỀN RỦA, ANH LÀ NGƯỜI KHÔNG CO HỌC THỨC CÓ NHỮNG NGƯỜI NHƯ ANH CHO NÊN DẪN ĐẾN TỘI TỆ XẢ HỘI HIỆU TRƯỞNG ĐEM TRẺ CON ĐI BÁN TRINH KHÔNG KHAC GI ÔNG HỒ, XÀ HỘI CHỦ NGHĨA LÀ VÂỴ MỠ MẮT LỚN RA MÀ XEM ĐỒ ĐUÔI.

  89. Trang báo này toàn là dân côn đồ viết, nói năng theo kiểu đầu đường só chợ. Trang nào cũng nói theo cách “Thù qúa hóa ngu” thời buổi này có ai vô học mới nghe những lời như vậy.

  90. Trang báo này toàn là dân côn đồ viết, nói năng theo kiểu đầu đường só chợ. Trang nào cũng nói theo cách “Thù qúa hóa ngu” thời buổi này có ai vô học mới nghe những lòi nhu vậy.

  91. VẬY ÔNG HỒ LÀM ĐƯỢC GÌ? VÀ TỔ QUỐC ÔNG HỒ LÀ ẢI? CÓ PHẢI TỔ QUỐC ÔNG HỒ LÀ MARX, VÀ ĐẢNG CỘNG SẢN CỦA ÔNG HỒ ĐẠI DIỆN CHO AI? CHO DÂN HẢ SAO KHÔNG ĐEM LẠI NGUYỆN VỌNG CỦA NGƯỜI DÂN, ĐẠI DIỆN CHO ĐẤT NƯỚC, SAO LẠI ĐEM ĐI BÁN HOÀNG XA VÀ TRƯƠNG XA CHO TÀU CỘNG, ÔNG HỒ LÀM ĐƯỢC CÁI GÌ? CƯỚP CHÍNH QUYỀN GIẾT NGƯỜI BÁN ĐẢO, GAY RA CHIÊN TRANH THỬ HỎI ĐẤT NƯỚC ĐẾN NGÀY HÔM NAY ĐƯỢC GÌ, VÀ AI LÀ NGƯỜI PHẢN QUỐC.

  92. noi dung website nay la su vu khong, bia dat that xau xa, bi oi. Va qua day toi thay qua nhieu loai nguoi Viet Nam can ba, uong dong sua me nhung san sang nho nuoc bot vao ti me. That la khon nan.

  93. Các con chó săn cs ơi học nhớ kỷ nha các cháu .
    5 điều ác Hồ dạy cho học sinh nhi đồng
    1- Yêu ngoại quốc yêu kiều bào
    2- Học thì dốt cốt lừa đão
    3- làm thì dốt ,ỷ luật dốt
    4- Giữ gìn xác mình(hồ) thật tốn
    5- Nước mất tội là cộng sản

  94. Toàn chứng cớ vu vơ mà đòi bảo người dân Việt Nam đi tin vào các vị sao. Đúng là giấc mơ Mỹ, bó tay.

  95. Tôi nói thật . . Đây gọi là bán nước . .Chỉ có những thằng ngu học mới đi tin vào mấy cái loại tầm bậy này. . . Xem có mổi đoạn phim gần 2h mà đã nhận xét về Bác thế sao . . .Tôi công nhận Bác Hồ không phải là thần thánh , nhưng mà những jì Bác mang lại cho nhân dân Viêt Nam là không thể phủ nhận được . . .Bác Hồ mà như mấy cái lời bịa đặt kia thì ai là người mang lại nền độc lập cho VN . . Tôi thấy Bác Hồ đã có một sai lầm lớn nhất là đã không xử bắn ông bà bố mẹ của mấy cái thằng phản động kia để bọn nó lại sinh ra một lũ bán nước nữa . . .

  96. May thang lao toet

    Thua tran bo chay ma con lao toet

    Ong Ho du luu manh van co cong cuu nuoc

    May thang Kito khong bi nhoi so ha?that buon cuoi

  97. dưới chế độ cộng sản thì đảng cộng sản đã đầu độc nhồi sọ trẻ em từ lúc đi mẫu giáo .khi lứa tuổi trẻ thơ đang cần thiết học nhận thức ông bà cha mẹ bà con họ hàng chú bác cô gì nội ngoại … hoặc nhận biết gia đình là tôn giáo gì đức Phật hay chúa Giê Su …Nhưng đảng cộng sản bắt buộc thầy cô giáo phải nhồi nhét gieo vào đầu trẻ thô là bác Hồ và đảng cộng sản . Hồ được ví thành sống hay thánh chết thì đúng hơn .Lủ trẻ thơ chỉ biết Hồ qua tấm ảnh là ông già phúc hậu ,lủ trẻ có bao giờ gặp ông đâu ? ông có cho lủ nó bánh kẹo gì đâu … Cô giáo còn dạy các em được đi học ,có cơm ăn áo đẹp đó là ơn bác và đảng ta . Lũ trẻ về nhà lập đi lập lại như con vẹt .Nếu mà không thuộc bài thì sẻ bị cô phạt ,tội nghiệp lủ trẻ chĩ vài tuổi mà đã bị áp đặt như thế thì còn đâu mà nhận biết được bà con họ hàng lối xóm .Đáng tội nghiệp hơn nữa là những đứa trẻ bị ngọng và lắp nó không phát âm được thay vì nói là bác Hồ thì thành ác Hồ ,đảng thì ảng làm cả xóm cười nức bụng khi nó nói ác hồ ẳng ẳng ẳng nghe như nó nói đến con chó vậy.
    nếu lủ trẻ nào may mắn gặp cô giáo tốt không phải là đảng viên cộng sản thì cô dạy qua loa Hồ và đảng .Cái chính là cô dạy lủ trẻ kính trọng ông bà cha mẹ … dạy lủ trẻ nhận biết tốt xấu ngay trong đời thường gần gủi nhất ví dụ cho lủ trẻ nhận biết ngay … . Đa số các trường điểm thì toàn là giáo viên phải có đảng viên hoặc là con ông cháu cha mới vào dạy đươc dù nghiệp vụ chuyên môn không có ,nhưng cũng có bằng thật đàng hoàng nhưng là học giả hoặc là bằng mua ,còn học sinh cũng phải là con ông cháu cha ,nếu không thì phải học thật giỏi . Do đó sau này lớn lên lủ trẻ biết được sụ thật Hồ và đảng cộng sản gây biết bao tội ác với dân tộc Việt Nam trái với những gì mà chúng bị nhồi nhét ở trường . Vì vậy lớp trẻ lớn lên biết nhận thức một cách khoa học các sự việc thì luôn luôn đấu tranh đòi dân chủ ,nhân quyền và đặt lợi ích quốc gia dân tộc Việ Nam lên hàng đầu .Còn lủ trẻ con ông cháu cha đảng viên cộng sản thì luôn u tối ,bảo vệ cho Hồ và đảng để chế độ cộng sản tồn tại được ngày nào hay ngày đó một cách mù quáng ,nên làm cho đất nước Việt Nam ngày nay với hiểm họa giặc phương bắc cận kề mà đảng cộng sản Việt Nam tuân theo lời chỉ đạo của Trung Quốc bắt bớ các nhà đấu tranh dân chủ ,bất đồng chính kiến ,lãnh đạo tôn giáo ,trí thức nhà báo .đảng viên chân chính …. như một gã tay sai ngoan ngoãn đích thực .Hỡi các bạn trẻ chúng ta hãy làm gì đây ???
    .

  98. Cộng sản, khi phản bác bài viết của những người không ưa họ, lúc nào cũng cao giọng hỏi: “các người đã làm được gì cho đất nước?”
    Những bài viết của những người trong phong trào dân chủ thì đa dạng, nội dung phong phú, trong khi Việt Cộng vào đây chỉ nhai đi nhai lại những câu cũ rích đã nói từ mấy chúc năm. Đúng là đầu bã đậu, không biết xấu hổ!

  99. Đồ phản quốc. Ông thử xem mình là loại người gi? đã làm được gì cho đất nước?

  100. đồ phản quốc. Ông thử xem mình là loịa người gi? đã làm được gì cho đất nước?

Góp ý, Thảo luận

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s