Con người và tư cách đáng phục của Lm Nguyễn Văn Lý

Lời nói đầu: Hiện nay, để thanh minh cho việc bắt Lm Nguyễn Văn Lý vào tù trở lại, nhà cầm quyền CSVN đã vu cáo ngài nhiều chuyện. Vì thế, tôi viết bài này như một lời chứng để mọi người thấy được con người và tư cách đáng phục của ngài, và đừng vội tin những lời vu cáo ngài.

***

Sau cơn lụt lớn nhất thế kỷ tại Huế cuối năm 1999, tôi đến Huế để cứu trợ lụt. Thời ấy tôi chỉ là người hoạt động tôn giáo và chỉ quan tâm tới những vấn đề tâm linh. Lần cứu trợ này, tôi đến giáo xứ Nguyệt Biều, nơi bị cơn lụt tàn phá dữ dội, cũng là nơi Lm Nguyễn Văn Lý bị quản chế từ năm 1994. Tại đây, tôi được một giáo dân trong xứ dẫn tới nơi Lm Lý đang chỉ huy làm đường cho dân tại xã Thủy Biều. Xã này gồm 4 thôn, Nguyệt Biều là xứ đạo thuộc một thôn trong xã. Lúc đó tôi chưa hề biết cha Lý là một người đấu tranh.

Ngài làm đường cho dân vì xã này bị lụt tàn phá trầm trọng và vì hệ thống đường xá trong xã rất nghèo nàn. Trong cơn lụt, hàng chục ngàn bao xi măng tại nhà máy xi măng Long Thọ trong vùng bị biến thành đá. Vì thế họ bán rẻ mỗi bao 5.000đ thay vì 50.000đ [1]. Để làm đường, cha Lý đặt mua tất cả các bao xi măng đó. Ngài biến tất cả những rãnh nước vốn rất dơ bẩn trong xã thành những con đường rộng khoảng 3 mét để xe hơi có thể đi được. Các bao xi măng bị hóa đá ngài cho xếp lên nhau làm thành hai bờ đường rồi cho dân đổ đất vào giữa. Mặt đường thường cao hơn mặt đất khoảng một mét. Ngài huy động dân trong xã cùng hợp tác làm đường với ngài.

Dân tình nguyện làm đường với ngài rất đông, ai cũng tỏ ra cảm phục, quý mến ngài. Họ hết sức cảm phục vì trong khi chính quyền không hề nghĩ đến chuyện làm đường cho dân, một yếu tố rất cần thiết để xã có thể phát triển, thì ngài, một linh mục nhỏ bé đang bị quản chế trong xã, lại nghĩ đến và ra tay làm việc ấy với số tiền ngài xin từ hải ngoại. Chính nhờ những con đường này mà sau này xã Thủy Biều phát triển mọi mặt và được nâng cấp lên thành phường.

Đối với những gia đình trong xã bị lũ cuốn mất nhà, ngài cấp tôn, cột bê-tông và huy động nhân sự để giúp họ làm lại nhà. Các nhà nghèo, ngài cho mượn vốn để nuôi heo hoặc mua xe xích-lô. Ngài cũng lập một tủ sách để thanh niên và trẻ em trong xã có thể mượn đọc, nhất là sách giáo khoa từ lớp 1 đến 12 mà các em có thể mượn về nhà cả năm, học xong thì trả lại. Ngài còn mở những lớp tin học nhằm đào tạo các thanh thiếu niên trong xã muốn theo học.

Điều tôi cảm phục ngài nhất là ngài nhận được rất nhiều tiền từ hải ngoại, vì làm những con đường như thế tốn rất nhiều tiền lẫn công sức, nhưng chính bản thân ngài lại sống hết sức kham khổ. Phòng ngài ở lúc ấy là cái chái của nhà thờ Nguyệt Biều được dùng làm phòng thánh [2], rộng 2m, dài 5m, cao khoảng 2m5, lợp tôn nên khá nóng. Như vậy diện tích nơi ngài ở chỉ khoảng 10m2, vừa đủ kê một cái bàn, một tủ áo lễ, một số đồ đạc của nhà thờ và của riêng ngài. Chỗ ngủ của ngài là một tấm ván kê cao lên dài 2m nhưng chỉ rộng 0m8, một cái chiếu gấp tư lại phủ lên trên.

Sau lần gặp đó, tôi còn gặp ngài hai lần nữa khi có dịp ra Huế, và tôi có dịp dùng bữa với ngài hai lần. Cả hai lần ấy, ngài đều dùng cơm với đậu phộng kho nước mắm và một bát canh rau. Hỏi ông từ bên cạnh nhà thờ, người phụ trách nấu cơm cho ngài, ông cho biết bữa nào ngài cũng ăn thanh đạm như vậy. Thế mà ngài vẫn rất khỏe, tươi tắn, hồng hào. Ngài cho biết ngài khỏe là nhờ ngồi thiền mỗi tối. Những lần gặp đầu tiên ấy, tôi chỉ biết ngài bị quản chế vì một vài hành động phản kháng nhà cầm quyền về tôn giáo, chứ chưa biết nhiều về ngài.

Những cuộc gặp gỡ này đã gây nơi tôi ấn tượng khá mạnh vì cách sống rất nghèo khó, thanh thoát của ngài. Người Việt hải ngoại gửi cho ngài những số tiền rất lớn để ngài cứu trợ lụt, để làm đường và các dự án khác, trong đó chắc chắn có những tiền mà người ta tặng riêng để ngài chi dùng cho bản thân, chắc chắn với những số tiền ấy, ngài có thể sống một cách đầy đủ hơn rất nhiều. Nhưng với cảnh sống hết sức thanh bạch và cách ăn uống hết sức đơn giản như vậy, thiết tưởng ngài đã dành hết số tiền người ta gửi cho ngài để lo cho dân, chứ không giữ lại phần nào để lo cho bản thân mình.

Nếu tiền bạc có thể dùng để thử lương tâm con người, thì qua sự kiện này, Lm Nguyễn Văn Lý chứng tỏ là người rất có lương tâm, là một chân tu, một linh mục siêu thoát và sống khá đúng gương nghèo khó của Đức Giêsu, vị giáo chủ mà ngài chọn làm lý tưởng để noi gương theo.

Chỉ mấy tháng sau, vào tháng 11-2000, tôi nghe tin Lm Nguyễn Văn Lý từ Nguyệt Biều lên tiếng đấu tranh cho tự do tôn giáo với khẩu hiệu “Tự do tôn giáo hay là chết”, với sự hỗ trợ đắc lực của Lm Nguyễn Hữu Giải và Lm Phan Văn Lợi.Nếu không gặp ngài và không có một ấn tượng mạnh mẽ và tốt đẹp về ngài, chắc hẳn tôi đã không đủ lý do mạnh mẽ và thuyết phục để lên tiếng ủng hộ ngài. Chính con người và tư cách của ngài khiến tôi chuyển hướng hoạt động, thay vì chỉ quan tâm hoạt động tôn giáo, nghiên cứu, viết lách về tôn giáo và mải mê con đường tâm linh, tôi bắt đầu nghĩ đến những vấn đề xã hội, những bất công, những cấm đoán, những đau thương mà các tôn giáo và toàn dân Việt đang phải chịu.

Sau mấy tháng suy nghĩ, đắn đo, cân nhắc, tôi đã chấp nhận tất cả mọi rủi ro có thể xảy đến cho tôi và gia đình, để rồi đầu tháng 2-2001, tôi bắt đầu lên tiếng ủng hộ cuộc đấu tranh cho tự do tôn giáo của Lm Nguyễn Văn Lý, và cùng đấu tranh với ngài. Tư cách và lòng dũng cảm của Lm Nguyễn Văn Lý đã nâng đỡ tôi rất nhiều trong cuộc đấu tranh cho dân chủ nhân quyền của tôi suốt từ đầu năm 2001 đến nay, nhất là những khi tôi gặp khó khăn, bị sách nhiễu, bị đe dọa, bị khủng bố vì đấu tranh.

Ngài thường củng cố tinh thần đấu tranh của tôi mỗi lần tôi có dịp tiếp xúc với ngài qua điện thoại hay qua skype. Niềm tin tưởng của tôi vào lương tâm, sự trong sáng của ngài trong cuộc đấu tranh này đã được củng cố thêm khi tôi nghe ngài chia sẻ khá nhiều lần về 5 điều tinh thần mà ngài áp dụng trong cuộc đấu tranh của ngài, đó là tinh thần “ngũ vô”, gồm có:

1) Vô úy: không sợ hãi, không sợ chết cũng không sợ đau khổ, dù là đau khổ tinh thần hay thể xác;

2) Vô cầu: không cầu cạnh, xin xỏ, vì cầu cạnh xin xỏ sẽ làm mình mất thế mạnh của mình, là chấp nhận một thế đứng thấp hơn đối tượng mình cầu cạnh xin xỏ; khi đấu tranh mà mình xin xỏ đối phương thì mình đã chấp nhận thua họ từ đầu rồi.

3) Vô thủ: không giữ lại cho mình điều gì, dù là tiếng thơm, danh vọng hay tiền bạc, của cải; và cũng có nghĩa là không cần phòng thủ hay đề phòng gì cả, vì mình đấu tranh công khai, quang minh chính đại, ai rình nghe cũng mặc;

4) Vô ngã: dẹp bỏ “cái tôi”, không tìm cái lợi cho riêng bản thân;

5) Vô biệt: đối xử với mọi người không phân biệt quốc gia hay cộng sản, da trắng hay da vàng, Phật giáo hay Công giáo, ai đứng về phía lẽ phải và sự thật đều là đồng minh của mình.

Và ngài cho rằng một khi mình thực hiện được tinh thần “ngũ vô” này rồi, thì tức khắc mình có thêm một “cái vô” thứ sáu, đó là “vô địch”! Theo nhận định của tôi, ngài đã sống khá tốt tinh thần “ngũ vô” này.

Chính vì con người, tư cách và tình yêu thương của cha Lý như vậy, ngài mới có thể huy động đa số giáo dân cả hai giáo xứ Nguyệt Biều và An Truyền cùng hăng hái đấu tranh và sẵn sàng sống chết với ngài.

Với tư cách một linh mục, ngài đã tỏ ra một tình yêu nồng nàn đối với Giáo Hội, một tinh thần trách nhiệm với giáo phận Huế và giáo dân của ngài. Tôi được Lm Phan Văn Lợi cho biết:

Trước khi Huế lọt vào tay cộng sản ngày 26-3-1975 thì ngài đang ở Sàigòn. Khi nghe tin cộng sản tấn công thành phố Huế và nghĩ rằng thành phố Huế có thể bị mất vào tay cộng sản, thì ngài lập tức bỏ Sàigòn để trở về Huế cho kịp trước khi Huế thất thủ. Ngài hành động như vậy, trong khi hàng chục ngàn người sẵn sàng bỏ hết của cải tại Huế để chạy vào Sàigòn theo tinh thần “bỏ của chạy lấy thân”, vì lúc ấy ai cũng nghĩ rằng Sàigòn không thể bị mất vào tay cộng sản được.

Là một linh mục thuộc giáo phận Huế, ngài sợ rằng nếu Huế và Sàigòn thuộc hai chính thể khác nhau thì nếu ngài không rời Sàigòn để về Huế lúc đó, ngài sẽ vĩnh viễn không thể về Huế để phục vụ giáo phận và giáo dân của ngài được, nên ngài đã về gấp trước khi Huế bị mất vào tay cộng sản. Nói chung, ai cũng sợ cộng sản và luôn luôn sẵn sàng chạy trốn về những nơi có tự do, vì tự do là quý hơn tất cả. Nhưng đối với ngài, dù ngài cũng quý tự do như tất cả mọi người, nhưng ngài đã đặt tình yêu đối với giáo phận và giáo dân của ngài còn quý hơn tự do của chính bản thân ngài.

Tình yêu tha thiết và tinh thần trách nhiệm cao độ của ngài không chỉ hạn hẹp trong tôn giáo hay giáo hội của ngài, mà còn rộng mở ra cho quê hương đất nước. Ngài không chỉ đấu tranh cho tự do tôn giáo, mà còn đấu tranh cho nhân quyền, cho tự do dân chủ của toàn dân tộc. Việc tham gia thành lập Khối 8406 và trở thành như linh hồn của Khối này, việc tích cực đấu tranh bảo toàn lãnh thổ, chống Trung cộng xâm phạm lãnh hải trong tình trạng bán thân bất toại vì khối u trên não… chứng tỏ tình yêu và tinh thần trách nhiệm rộng mở ấy.

Về tinh thần yêu quê hương đất nước và trách nhiệm của người công dân trong một đất nước lầm than tụt hậu vì bị cai trị bởi một chế độ độc tài phi nhân, tiếp tay cho ngoại xâm như chế độ Cộng sản Việt Nam hiện nay, sự tích cực dấn thân của ngài quả là mẫu gương sáng lạn cho nhiều người, đặc biệt cho giới trẻ hiện nay.

Houston, ngày 7-8-2011

Nguyễn Chính Kết

____________________

Phụ chú:

[1] Với thời giá lúc đó, một đôla Mỹ trị giá 15.000đ VN có thể mua được 3 bao.

[2] Phòng thánh: nơi linh mục mặc phẩm phục trước khi ra nhà thờ cử hành thánh lễ, cũng là nơi chứa những đồ đạc liên quan đến việc thờ phượng.

29 Responses to Con người và tư cách đáng phục của Lm Nguyễn Văn Lý

  1. Hồ Dâm Dật và Lu Hà đã chuyễn bao nhiêu lửa về quê nhà rối vậy?
    Lửa này coi bộ tốt à nghe!!!

    • Bất lực trong khai thác tin tức chuyển lửa về VN của NV tự do hay sao mà CAM xuống giọng quỳ gối xin xỏ tớ thế?
      Biết nhưng đ … nói! he he he

  2. Ở đây cũng có nhà thơ “tự sướng” ! Sao nhiều quá vậy?

  3. VAÌ Ý KIẾN ĐÓNG GÓP VỀ CÁC PHƯƠNG THỨC
    BIỂU TÌNH TRONG NƯỚC CHỐNG TÀU CỘNG VÀ BỌN TAY SAI .
    Thời gian gần đây phản ứng trước sự xâm lăng trắng trợn của Trung Cộng và sự đớn hèn của tập đoàn CSVN, nhân dân trong nước nhất là lớp trẻ đã tổ chức các cuộc xuống đường ở 2 thành phố lớn là Hà Nội và Sài Gòn để phản đối. Quy mô các cuộc biểu tình càng ngày càng lớn hơn và cũng bị tập đoàn bán nước CSVN dùng lực lượng công an và cả xã hội đen để trấn áp . Trước tình hình nầy tôi xin đưa ra một vài ý kiến đóng góp :
    1/- LỰC LƯỢNG NỒNG CỐT :
    Là lớp trẻ gồm thanh niên, sinh viên, học sinh và các trí thứ trẻ, các anh em thương phế binh của bộ đội CS và nếu có sự tham dự của các anh em thương phế binh VNCH cùng sát cánh thì càng tốt .
    2/- MỤC TIÊU VÀ ĐỐI TƯỢNG :
    Trung Cộng và Việt Cộng là đối tượng đấu tranh nhắm vào nhưng mục tiêu chính yếu là THỨC TỈNH LÒNG DÂN, cần thiết phải vạch rõ bộ mặt phản dân, hại nước của tập đoàn CSVN, vạch rõ hiểm họa mất nước vào tay Tầu Cộng để toàn dân VN thức tỉnh . Từ mục tiêu chính yếu là nhằm thức tỉnh lòng dân, khơi dậy sức mạnh và lòng tự tin, không còn sợ hãi nữa trong mọi tầng lớp dân chúng VN, do đó giai đoạn đầu không cần thiết phải biểu tình trước các sứ quán, lãnh sự Tầu Cộng ; mà nên tổ chức đồng loạt, rộng khắp ở nhiều địa điểm, nhiều địa phương trong cả nước, lấy ngày Chúa Nhật hằng tháng để tập trung biểu tình .Ngày nầy tất cả các cơ sở thương mại nên tự động đóng cửa để bày tỏ sự ủng hộ, tất cả mọi người ra đường nên mặc áo trắng, hay đen để biểu thị một tang tóc cho đất nước nếu toàn dân không quyết tâm đánh đuối thù trong, giặc ngoài . Tại các thành phố lớn như Sài Gòn, Hà Nội, Hải Phòng, Huế, Đà Nẳng, Nha Trang, Đà Lạt, Cần Thơ v.. v nên tổ chức biểu tình đồng loạt tại nhiều địa điểm để phân tán lực lượng công an không cho bọn chúng tập trung đồng thời thu hút sự chú ý, tham dự của nhiều người .
    3/-PHƯƠNG TIỆN XỬ DỤNG :
    _ Lá chắn .( Khiên che ) Dùng những vật liệu cứng như ván ép, nắp những thùng phuy xăng, dầu dán lên mặt trước hình các tên đầu sỏ Đảng CSVN như Hồ Chí Minh và các tên hiện hành như Dũng, Trọng, Triết, Sang, nhất là hình Nguyễn Tấn Dũng, mặt sau nên làm tay cầm cho vững. Những người cầm những tấm khiên che nầy sẽ đi đầu và 2 bên để bảo vệ cho đoàn người biểu tình và sẵn sàng dùng những cái khiên nầy để che chở, đỡ những dùi cui của bọn công an, nếu dùng bạo lực trấn áp bọn chúng sẽ đập thẳng vào mặt những hình các tên chóp bu CSVN nầy do đó sẽ làm trò cười cho nhận dân và báo chí .
    _ Cờ xí, biểu ngữ : Dùng những cán cờ, biểu ngữ bằng gỗ cứng, bằng tầm vông để đến khi cần sẽ trở thành vũ khí tự vệ sẵn sàng giải cứu những người bị bắt . Mỗi người cầm cờ, cầm biểu ngữ nên có sẵn hộp quẹt ga trong người, khi bị đàn áp hãy đốt những lá cờ, biểu ngữ và phất vào mặt bọn công an đàn áp dân chúng biểu tình sau đó những cán cờ nầy sẽ là gậy gộc tự vệ .
    _Nội dung biểu ngữ : Ngoài những nội dung lên án Tầu Cộng xâm lược, bọn tay sai bán nước còn có những tấm bảng kêu gọi sự thức tỉnh của nhân dân, của Quân Đội như : Quân Đội Nhân Dân hãy thực thi sứ mạng bảo vệ tổ quốc, bảo vệ nhân dân. Quân đội Nhân Dân : Lịch sử đang chờ .
    4/- HOẠT ĐỘNG BÍ MẬT :
    Chúng ta đều hiểu CS là một băng đảng khủng bố, trong mặt bí mật hãy áp dụng những hành động khủng bố để đối phó lại với bọn chúng như một phương thức gậy ông đập lưng ông . Phần nầy kêu gọi sự tham gia của các anh em giang hồ yêu nước, những hảo hán đầu đội trời, chân đạp đất, nghĩa khí can vân .Những người tham dự biểu tình cần ghi những đoạn video, hình chụp những tên công an ác ôn, những tên xã hội đen bất lương được bọn công an mua chuộc làm tay sai sắt máu khi đàn áp đồng bào ; điều tra tên tuổi bọn chúng phổ biến trên net, in ra những tấm bích chương dán tại nhiều nơi. Anh chị em giang hồ sẽ theo dõi bọn nầy để khi thuận tiện ra tay trừng trị cảnh cáo bọn chúng. Nhớ ngụy trang, che mặt đừng để bọn chúng nhận diện . Xử tội vài tên , không cần đập chết, móc vào ngực bản án để cảnh cáo sẽ làm bọn ác ôn nầy khi thi hành nhiệm vụ phải e dè, chùng tay không dám đánh đập nhân dân nữa .
    4/- THỜI KỲ CHÍN MÙI :
    Sau nầy khi khí thế nhân dân đã lên cao có thể quy tụ hàng ngàn, hàng chục ngàn người biểu tình thì sẽ tập trung tại một đia điểm duy nhất tại mỗi thành phố cùng đồng loạt xuống đường, bọn công an sẽ rất khó khăn trong việc ngăn chặn, đàn áp .
    5/-ĐỒNG BÀO HẢI NGOẠI YỄM TRỢ :
    Thiết lập ngân quỹ để bí mật cứu giúp những đồng bào bị thương tích do công an đàn áp, giúp yểm trợ nước uống , bánh mì cho những người biểu tình lót dạ. Ngoài việc post những hình ảnh, bài viết bằng Việt ngữ và chuyển sang các ngoại ngữ thông dụng để nhân dân thế giới hiểu biết, thông cảm cùng chia xẻ những nguyện vọng của dân tộc Việt; các tổ chức, cá nhân nên trang bị những máy tính chủ ( server ) để làm nhịp cầu chuyển tải những tin tức, kêu gọi biểu tình, những bài viết giá trị để phổ biến cho nhân dân trong nước đọc. Đưa lên nhiều địa chỉ vào net giúp đồng bào dễ dàng tìm kiếm tránh khỏi sự theo dõi của bọn công an mạng .Cài những quảng cáo pop up vào các trang mạng của các cơ quan, xí nghiệp, các trang giải trí phim ảnh, ca nhạc để mọi người dễ dàng tìm đến .
    LÍNH GIÀ . (nguyetdnh@yahoo.com)
    ( 07/08/2011 )

  4. Giọt Mưa Thu
    Kính tặng Đức Tổng Giám Mục

    Có một người giám mục
    Như bao nhiêu người Cha
    Thương đàn chiên đau khổ
    Bên sông Hà hoang vu

    Ôi! Thiên Chuá bao la
    Lắng nghe trên tầng cao
    Thiết tha lời cầu nguyện
    Áng mây chiều bay xa…

    Não nề trời mua thu
    Trên thánh điạ Thái Hà
    Đầm đià dầu ngọn cỏ
    Những bàn chân xéo qua….

    Mảnh đất cuả cha ông
    Ghi lại bao tang thương
    Nơi trần gian u ám
    Quỷ đỏ gây hãi hùng

    Ngọn nến từ muôn phương
    Bao tấm lòng ly hương
    Bắc Trung Nam hải ngoại
    Xin đức Bà xót thương

    Hà Nội trời muà thu
    U ám đến bao giờ
    Khi lòng người nham hiểm
    Vu cáo lời đức Cha…

    Bởi Ngài là chủ chăn
    Cho mấy triệu giáo dân
    Không phải là lãnh tụ
    Nên Cha thành nạn nhân

    Cắt xén lời Đức Cha
    Lương tâm nào xét cho
    Tấm lòng Cha trung thực
    Chúng viết thành xấu xa….

    Vì miếng đất khổ đau
    Nói ra lời thiết tha
    Đối thoại và đoàn kết
    Anh em trong một nhà

    Người ta không muốn nghe
    Còn con cà con kê
    Đất đai và hộ chiếu
    Như tỏi hành mắm chê….

    Hà Nội vào lịch sử
    Tiếng cầu kinh ngân vang
    Một muà thu sốt loạn
    Bầy dã thú điên cuồng

    Họ đuổi Chuá ra đi
    Kế hoạch đã định rồi
    Công viên và sàn nhảy
    Thánh điạ rào thép gai

    Mưa nhuộm máu thấm tràn
    Quang vinh dòng phúc âm
    Biết bao đời con cháu
    Giữ tấm lòng sắt son

    Luật rừng ai bày ra
    Quốc Hội nào thông qua
    Cho quyền lợi cuả đảng
    Công lý chiều mưa thu…

    Oán hận mãi không nguôi
    Nước sông hồng chảy xuôi
    Mang phù sa rác rưởi
    Xây đắp xây cuộc đời…?

    Cha đi ra nước ngoài
    Nước mắt chảy cứ chảy hoài
    Trên phi trường quốc tế
    Tủi hờn cho giống nòi

    Đêm Hà Nội đầy sao
    Như bao nhiêu muà thu
    Nghe tiếng lòng rả rích
    Bốn ngàn năm thương đau…

    Làn gió thổi tự nhiên
    Choáng ngợp lũ cầm quyền
    Còn dân thì khoá họng
    Tàn lụi trong ươn hèn

    Mấy thập kỷ qua rồi
    Đất nước đã mở mày
    Trong khối liên hợp quốc
    Gạo bán hàng thứ hai…

    Xuất nhiều thì dân đói
    Có gì mà khoe khoang
    Ai tự hào kiêu hãnh
    Ai khổ trong vinh quang?…

    Hơn sáu mươi năm qua
    Từ cách mạng muà thu
    Đời ông và đời cháu
    Đếm lá vàng thương đau

    Hà nội trời mưa rơi
    Mưa tan nát lòng tôi
    Mưa rơi toà khâm sứ
    Mưa băm nát tình người!

    2008 Lu Hà

    • Tiếng Đàn Ngàn Thu
      chuyển thể thơ HT Thích Quảng Độ:Trời đã Sáng

      Vào một buổi chiều mưa ảm đạm
      Trời nhà tù buồn thảm mây qua
      Như làn gió thổi tháng tư
      Ba mươi ngày ấy sương mù lệ rơi !

      Còn thổn thức tim tôi buốt nhói
      Năm bảy lăm tê tái qua rồi
      Tần ngần ngắm giọt mưa rơi
      Mái nhà đổ xuống như người khóc than

      Trôi lênh láng muôn dân vô tội
      Trận cuồng phong đường lối bắc phương
      Miền nam thảm hoạ bi thương
      Từng cơn gió rít hãi hùng chủ trương

      Tường ẩm mốc mênh mông bóng tối
      Một mình tôi nhoi nhói than ôi !
      Đăm chiêu nhìn phiá chân trời
      Tìm trong tưởng tượng hoa tươi sang màu

      Xà lim lạnh mịt mờ u tối
      Giưã màn đêm tiếng gọi Miền Nam
      Nỗi đau tức tưởi âm thầm
      Ngoài kia chắc hẳn lương tâm nghẹn ngào…

      Nhà tù lớn phèng la chế độ
      Hỏi tìm đâu để có tự do
      Một bầy dã thú ma cô
      Quê hương dày xéo bốn muà khổ đau

      Hoàng hôn xuống ta bà ảo não
      Bóng đêm trùm mưa đã ngừng rơi
      Sau hồi kẻng hiệu chơi vơi
      Toàn khu im ắng như ngoài mộ hoang

      Miền cát trắng lang thang trí tưởng
      Hồn mênh mông lãng đãng mây sa
      Lập loè đom đóm la cà
      Không gian thấm lạnh nhà mồ lẻ loi

      Tôi thoáng thấy ma chơi ẩn hiện
      Áo màu xanh tàng ẩn nhe răng
      Dép râu mũ cối oằn lưng
      Ba lô súng đạn hãi hùng hành quân

      Cơn gió thổi chập chờn song cưả
      Đêm đã khuya giấc ngủ bơ phờ
      Thời gian lạnh lẽo trôi qua
      Hồn tôi lạc lối bên bờ trầm luân

      Bỗng đâu đấy véo von tiếng hót
      Qua một đêm định luật vô thường
      Ô kià thánh thót hừng đông
      Con chim réo gọi thái dương lại về

      Trời hửng sáng lòng tôi thổn thức
      Đám mây đen từng bước rã tan
      Bầu trời con én mừng xuân
      Miền Nam trở lại tiếng đàn ngàn thu…!

      17.4.2010 Lu Hà

  5. Hoà Độc Thêm Hờn
    sự kiện khủng bố hoà thượng: Thích Không Tánh

    Ba mươi tháng tư chiều u ám
    Đường Sài Gòn ảm đạm thương đau
    Liên Trì cưả Phật chuông sầu
    Tin Thày bị bắt mưa nhoà lệ rơi !

    Thích Không Tánh thiền sư hoà thượng
    Bậc chân tu đạo pháp bốn phương
    Côn đồ mật vụ tấn công
    Đánh cho ngất xỉu hành hung giưã đường

    Bầy chó sói khoảng chừng bốn chục
    Xã hội đen chửi tục dữ rằn
    Thủ Thiêm bến nước Sài Gòn
    Cà sa xé rách máu thân tu hành

    Chúng sân hận công minh chính đại
    Phân phát quà an uỉ phế binh
    Cụt què vì bởi chiến tranh
    Cộng hoà chiến sĩ thảm hình bi thương

    Cả thế giới bàng hoàng trấn động
    Mạng thông tin lồng lộng lưới trời
    Mặt người dạ thú cuồng say
    Việt Nam hoà giải đắng cay thế này

    Cha đấu tố máu rơi lệ chảy
    Gã Trường Chinh chửi mẹ năm xưa
    Nhân văn đồng chí điêu ngoa
    Bà Năm đem bắn máu hoà non sông

    Sát hại vợ lăng loàn du thủ
    Từ bỏ con độc điạ Chí Minh
    Oán hờn ngùn ngụt trời xanh
    Râu xanh đạo đức xú danh lưu truyền.

    1.5.2010 Lu Hà

  6. Bạn Khách đã hiểu sai nếu không nói là viết ra lời xúc phạm tôn giáo, đề nghị bạn nên tìm hiểu sâu
    rộng và chính xác hơn về công giáo trước khi viết.
    Tôn giáo không đơn giản là một luận đề cho thí sinh mà là tín ngưỡng đại chúng, đừng bịa đặt nói
    bừa kẹt lắm đó ! Ông bà ta ngàn xưa có câu:” Biết
    thì thốt, không biết hãy dựa cột mà nghe! “.Xin
    ghi mấy dòng góp ý mong bạn thông cảm !

    • Khách không hiểu sai lầm đâu, mà vì khách có mục tiêu như tên Trần trứng ngốc, chuyên gia tuyên truyền cho đảng csvn, như đồng bọn giao điểm, Phật giáo quốc danh. he he he

  7. CHUNG QUANH LOẠT BÀI
    “NHỮNG XUYÊN TẠC, NGỘ NHẬN VỀ PHẬT GIÁO VIỆT NAM”
    * Tác giả: Bài chất vấn của ông Nguyễn Kim Long, trí thức Thiên Chúa Giáo (Paris).

    Bài trả lời của ông Lê Quân, trí thức Phật giáo (Los Angeles).

    * Trích từ: Tạp chí Khai Phóng, số 6 (tháng 10/1981) xuất bản tại Los Angeles, Hoa Kỳ.

    BÀI CHẤT VẤN

    Khi đọc lần thứ nhất bài “Những xuyên tạc, ngộ nhận về Phật Giáo Việt Nam” của Lê Quân (Khai Phóng số 3, trang 39-48), tôi không thể không thán phục giọng văn điêu luyện và có vẻ hấp dẫn của tác giả nói trên. Tuy nhiên, khi đọc lần thứ hai, tôi lại có cảm tưởng hình như tác giả bị “tên độc tài chuyên chế Ngô Đình Diệm” bỏ tù (?) nên đâm ra uất ức và hay lập đi lập lại những ý tưởng mà tôi có cảm tưởng là chưa có thể làm sáng tỏ vấn đề xuyên tạc và ngộ nhận.

    Tuy là một tín đồ Công giáo (chứ không phải Thiên Chúa giáo hay Kitô giáo), và nhất là không phải sống trong thời chính phủ Ngô Đình Diệm cầm quyền, tôi hoàn toàn đồng ý với tác giả và Linh mục Cao Văn Luận – mà tác giả hay trích dẫn qua quyển “Bên Giòng Lịch Sử” – về một số biện pháp cai trị thiếu dân chủ của chính phủ Ngô Đình Diệm.

    Nhưng, tôi hoàn toàn không đồng ý với tác giả về những điểm sau đây:

    1) Cho dầu độc tài đến mức nào đi nữa (mà sau khi ông Ngô Đình Diệm vừa bị hạ sát, thì đài BBC – Luân Đôn đã bình luận như thế này: “Ông Diệm là một trong những nhà độc tài ít độc tài nhất”), chúng ta không thể đặt ngang hàng ông Ngô Đình Diệm với “bác” Hồ Chí Minh ở hàng ghế tội phạm.

    Tác giả lấy cớ là ông Diệm tàn ác, nào là nhốt cả “3.000 tù nhân chính trị tại Côn Đảo”, nào là “sản phẩm của thế lực ngoại bang (Mỹ) như Hồ Chí Minh (là sản phẩm của ngoại bang là Nga)”, nào là “liên tục tiêu diệt (như Hồ Chí Minh) các lực lượng dân tộc”, nào là “300.000 (không xa với sự thực là bao) Phật tử bị thảm sát”, v.v…

    Chúng tôi xin để qua một bên những con số chưa kiểm chứng được, tôi chỉ xin đưa ra một nhận xét này: chúng ta nên phân biệt rõ ràng tiêu chuẩn “nô lệ cho ngoại bang” và bối cảnh lịch sử của những đường lối chính trị mà tôi tạm gọi là “tùy cơ ứng biến” để dịch ngữ “Realpolitik” trong tiếng Đức. Nói thế, tôi muốn đặt câu hỏi với tác giả: Tướng De Gaulle, nhờ phe đồng minh yểm trợ, nên mới có thể về giải phóng nước Pháp, có phải là một hành động nô lệ không? Thật ra, còn biết bao nhiêu ví dụ khác, cả trong lịch sử Việt Nam, mà tôi xin miễn dài giòng.

    Chúng ta cũng không nên quên rằng chính Tổng thống Ngô Đình Diệm, vì không muốn Hoa Kỳ đem lính sang Việt Nam, không chấp nhận cho Hoa Kỳ toàn quyền khai khẩn rừng Việt Nam (tác giả Lê Quân nghĩ sao về số 200.000 lính Hoa Kỳ tại Cộng Hòa Liên Bang Đức để so sánh với số 18.000 cố vấn quân sự thời Ngô Đình Diệm? Đức có bị lệ thuộc hay nô lệ Hoa Kỳ không?)… nên mới bị ám sát. Ngay trước khi chết, chính Đại sứ Henry Cabot Lodge hứa sẽ để cho Diệm thoát thân ra hải ngoại “nếu ông Diệm từ chức” thì cố Tổng thống đã khảng khái trả lời là nếu ông đã được dân bầu thì ông chỉ từ chức trước nhân dân (chứ không có lý do gì bị một tên Đại sứ áp chế phải từ chức). Vì bất đồng ý kiến với đường lối “xâm phạm vào nội bộ Việt Nam” nên chính ông Diệm và ông Nhu đã ngầm liên lạc với chính quyền Hà Nội (qua Đại sứ Ấn Độ tại Sài Gòn và Uỷ viên Ấn Độ trong Uỷ Hội Quốc tế Kiểm soát Đình chiến) để đi đến một cuộc ngưng bắn và thỏa hiệp.

    Đó là chúng ta chưa kể những lối mưu mô của ông Nhu (cho lính giả làm Việt Công) mưu sát một số tùy viên quân sự Hoa Kỳ tại Việt Nam có máu muốn áp đảo Chính phủ Ngô Đình Diệm vì đường lối chính trị độc lập (mà người Mỹ cho là “cứng đầu” của ông).

    Như thế, tôi thấy không có một lý do nào cho rằng, vì Hoa Kỳ đã cho ông Diệm ở đậu tại Maryland (đúng ra, là tại một chủng viện truyền giáo Maryknoll, vì có Đức Hồng Y Spellman ủng hộ…) nên ông Diệm là tay sai và nô lệ của Hoa Kỳ.

    2) Chúng tôi chưa thấy khi nào Chính phủ Ngô Đình Diệm tuyên bố (qua các sắc lệnh hay đạo dụ) coi Công giáo (chứ không phải Thiên Chúa giáo) như một Quốc giáo. Một số nhân viên cao cấp thời Đệ I Cộng hòa vẫn còn sống và quí vị này có thể là những nhân chứng cần thiết cho việc ghi lại quãng lịch sử Việt Nam thời Chính phủ Ngô Đình Diệm.

    Chúng tôi không biết Chính phủ ông Ngô Đình Diệm (xin lỗi, khi nói Chính phủ Ngô Đình Diệm, chúng ta đừng quên những nhân vật “Phật giáo” như các ông Nguyễn Ngọc Thơ, Phó Tổng thống, Vũ Văn Mẫu, Bộ trưởng Ngoại Giao!) có ra một sắc lệnh nào bảo rằng Đạo dụ số 10 của cựu Quốc trưởng Bảo Đại có hiệu lực. Điều chắc chắn là trong hiến pháp Đệ I Cộng Hòa xem tất cả các tôn giáo tại Việt Nam đều có quyền và bốn phận như nhau.

    Vấn đề cho phép treo cờ (tại Huế) chỉ là một chi tiết nhỏ trong những chi tiết. Dĩ nhiên, chúng ta không chối cái là có những lạm dụng quyền hành ở cấp dưới, nhất là hàng Quận và Xã, nhằm bắt nạt để “lập công” với Đảng Cần Lao. Lối “lập công” này không có tính cách kỳ thị tôn giáo, nhưng đúng hơn là để một tệ đoan trong một xã hội mới tập tễnh vào con đường dân chủ.

    Tuy nhiên, điều mà tác giả Lê Quân không nhắc đến – là sau khi đã hạ bệ được Diệm – Nhu – Cẩn, phe Phật giáo đã lần lượt đốt phá một số nhà người Công giáo công chức (của chế độ Diệm-Nhu) tính từ Huế trở vô đến Nha Trang, lúc ấy tôi có cảm tưởng là phe Phật giáo làm một công việc như Thập Tự Quân (thời Trung Cổ) đi đánh người Ả Rập vậy! Các làng đông người Công giáo, nhất là ở Đà Nẵng (Nội Hà, Chính Trạch, Thanh Bồ, Đức Lợi), Quảng Ngãi, Quy Nhơn và Tuy Hòa… bị bao vây và khủng bố (với sự đồng lõa của ông Nguyễn Chánh Thi!).

    Vậy thì những lạm quyền ở cấp dưới lúc nào cũng có. Còn như chỉ căn cứ vào một số sách vở ngoại quốc viết thì e rằng chúng ta (tác giả và cả tôi nữa) có thể vô tình làm “nô lệ” cho những phương tiện truyền thông một chiều đương thời (do các nhóm tài phiệt khuấy động và ngầm điều khiển). Cũng của ngoại bang!

    3) Phong trào chống đối chưa phải tiên thiên là một cuộc cách mạng hay cuộc vận động cách mạng, nhất là khi chống đối vì “tôn giáo bị đàn áp”. Ở điểm này, độc giả như tôi chẳng hạn, rất mong tác giả bài báo đưa ra những chương trình cách mạng 30-4-1963 (!) do Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam đề xướng và huy động. Đúng ra, tất cả các cuộc cách mạng thật sự đều phải được số đông quần chúng yểm trợ và cho là hợp lòng dân. Như thế, ở đây, chúng ta mong đợi tác giả cho một vài con số về tín đồ Phật giáo (Đại Thừa hoặc Tiểu Thừa, Ấn Quang hoặc Xá Lợi…) ủng hộ và xuống đường trong khoảng trước 1-11-1963. Và tỷ số Phật giáo?

    Nhưng tôi hoàn toàn đồng ý với tác giả là ngày 1-11-1963 chưa phải là cuộc cách mạng.

    Còn chữ “Vận Động Cách Mạng “ mà tác giả hay dùng thật sự tôi không hiểu rõ lắm, vì “công bằng xã hội” vốn là lý tưởng mà bất cứ đoàn thể hay tôn giáo, hay chủ thuyết nào cũng chủ trương. Hoặc là bị đàn áp (tín ngưỡng) nên mới đứng lên đòi cải tổ (mà không triệt hạ, theo lời tác giả)?

    Tôi rất tiếc là tác giả cho là các “chính quyền” (người Cộng Sản hay gọi các Chính phủ Cộng Hòa Việt Nam đều là chính quyền) “từ Ngô Đình Diệm đến Nguyễn Văn Thiệu” đều là có “bản chất tay sai, lệ thuộc vào Mỹ”. Thế thì tại sao Phật giáo đã không đủ sức để vận động đưa “cách mạng đến thành công”, nhất là dưới trào Phan Khắc Sửu? Vì lúc đó “Giáo Hội” Thiên Chúa giáo đã bị lép vế kia mà! Chúng ta nghĩ sao về thái độ của một thầy Thích Trí Quang xin “tị nạn” vào Tòa Đại Sứ Mỹ. Vậy thì ông Trần Văn Hương, một chính trị gia mà tôi rất khâm phục, cũng đàn áp Phật giáo nữa?

    Tôi luôn luôn khâm phục tất cả những tín đồ Phật giáo, và cũng như tất cả các tín đồ các tôn giáo khác, luôn luôn có thái độ ôn hòa và thức thời trong những lúc mà nước nhà biến loạn. Có thể những thành phần này đồng ý với tôi ở điểm này: Những người như ông Ngô Đình Diệm hay Trần Văn Hương đã và vẫn là những người chân chính và thực sự yêu nước.

    Đổ tất cả tội lỗi trên đầu một người hay một gia đình, tôi cho đó là một lối trốn chạy thiếu ý thức hoặc chỉ là một lối võ đoán (a posteriori) sau khi việc không thành.

    Tôi viết ra những dòng này cũng chỉ để góp ý kiến mà thôi, vì đây là những cảm tưởng đầu tiên của tôi khi đọc qua bài của Lê Quân. Thật sự, nếu tôi phải lục ra tất cả sách vở để làm bằng chứng hay biện minh cho những điều tôi nói trên thì chẳng qua đó cũng chỉ là một bài khảo cứu, có khi cả là một quyển sách dày cộm.

    Cũng trong chiều hướng này, tôi ao ước cũng sẽ có đông các học giả uyên thâm viết lại những dòng lịch sử (như lịch sử thời Ngô Đình Diệm chẳng hạn) hay những bài báo như bài của Lê Quân. Dĩ nhiên là chúng ta tôn trọng khác biệt tư tưởng của mọi người, vì chúng ta chuộng tinh thần tự do và dân chủ-nếu không chúng ta lại giống người Cộng Sản Mác-Lê.

    BÀI TRẢ LỜI

    Vài lời thưa riêng

    Là tác giả của loạt bài “Những xuyên tạc, ngộ nhận về Phật giáo Việt Nam” tôi rất cảm kích những ý kiến trao đổi của anh Nguyễn Kim Long. Xuất phát từ sự cảm kích này và bởi vì bài góp ý của anh Long đã có những câu hỏi trực tiếp đặt ra cho tôi chung quanh vấn đề nêu lên buộc lòng tôi phải viết thêm bài này. Đây là điều hoàn toàn trái ngược lại với ý định của tôi – cái ý định chỉ đề cập một lần mà không trở lại vấn đề “chế độ Tổng thống Diệm và cuộc vận động cách mạng 1963 của Phật giáo” một lần nào khác nữa, ít nhất là trong lúc này, bởi những lý do tế nhị của nó.

    Tuy vậy, bài viết thêm này không chỉ là một bài trả lời. Nó còn là một bổ túc cần thiết cho bài báo đã đăng về những gì mà bài báo đó đã không nói được hay chưa nói được hết.

    CĂN BẢN CỦA VIỆC ĐẶT VẤN ĐỀ

    Trước hết, tôi muốn xác định hai điều có tính cách căn bản:

    1) Mặc dầu tôn trọng tất cả những cảm tưởng, cảm nghĩ, nhận xét của anh, tôi vẫn xin nói ngay rằng, cái cảm tưởng “hình như tác giả bị “tên độc tài chuyên chế Ngô Đình Diệm” bỏ tù (?) nên đâm ra uất ức” là hoàn toàn không đúng với thực tế. Tôi đã không bị bắt bỏ tù ở Chín Hầm, Côn Đảo hay bất cứ một nhà tù tương tự nào khác dưới chế độ ông Diệm. Bản thân tôi, do đó, vốn không có gì để phải uất ức và nuôi dưỡng sự uất ức đến ngày nay đối với chế độ này. Vả chăng, tôi không quen và không từng viết bài bằng vào cái ý thức “để đáp trả lại những gì mà kẻ khác đã gây ra cho mình” theo kiểu “ân oán giang hồ” xưa nay. Điều khác biệt căn bản giữa anh với tôi là điều này: trong khi anh “đã không phải sống trong thời Chính phủ Ngô Đình Diệm cầm quyền” như chính anh xác nhận thì ngược lại, tôi đã phải sống trong thời này và lại sống ở nhiều nơi khác nhau trên những vùng đất khốn khổ của quê hương. Vì đã sống như thế mà dù muốn dù không, tôi cũng đã phải chứng kiến tận mắt, một phần nào, những nỗi tủi nhục đau thương diễn ra chung quanh mình cho những người mà trước khi là đồng đạo, họ đã là đồng bào của tôi. Đó là những giọt nước mắt của những người đã bị buộc phải bỏ nơi chôn nhau cắt rốn để lên sống ở những vùng Dinh Điền trên Cao nguyên rồi lại bị buộc phải từ bỏ “Đạo cũ” để có thể nhận được một tấm tôn, một lon gạo hay một khúc bánh mì. Đó là khuôn mặt chất ngất đau thương của một người bị trói đứng dưới cột cờ ở một vùng Dinh Điền chỉ vì đêm hôm trước, ông ta đã tụng kinh trước bàn thờ Phật ở trong nhà. Đó là tiếng kêu tủi nhục của hàng ngàn người ở Huế trong một mùa Phật Đản vì họ đã không thể thực hiện được cuộc rước Phật từ chùa Diệu Đế lên chùa Từ Đàm khi mà một khải hoàn môn có hình Đức Mẹ và cờ Tòa Thánh Vatican đã được dựng lên trên cầu Trường Tiền vào đúng ngày Phật Đản này. Đó là sự phẫn nộ không nói được ra lời của một số ngư dân ở Đà Nẵng khi một ngày vào năm 1956, trông lên chùa Non Nước ở Ngũ Hành Sơn, thấy một cây Thập Tự Giá được ai đó cắm lên. Đó là những lời ta thán của những người dân vô tội ở thị xã Quảng Ngãi dưới thời ông Tỉnh trưởng Nguyễn Văn Tất khi bị bắt buộc dời mồ mả cha ông từ bao đời đi nơi khác để dành đất xây một ngôi nhà thờ. Đó là hình ảnh những thân thể vùng vẫy như điên như dại trong cơn mê sảng của những người – trong số có bạn bè của tôi – bị tấn công bằng lựu đạn cay, lựu đạn khói trong những ngày Phật giáo đấu tranh của năm 1963. Đó còn là nhưng câu nói mà tôi đã được nghe trong cái thời đang còn cắp sách đến trường trung học: “phải dẹp bọn ma quỷ đã cản trở công việc làm sáng danh Chúa” để hơn một lần, phải tự hỏi, đâu là chỗ đứng của mình và của những người thân yêu đồng đạo khác nếu như xứ sở nghèo khó này cứ được dẫn đạo bởi một ý thức như thế. Đó cũng còn là những bài học văn chương Việt Nam vỡ lòng, khi tuổi thơ chưa có bao nhiêu suy nghĩ đã được nhét vào đầu óc những câu ca dao (được tuyển chọn trong hàng ngàn câu ca dao!): “Ba cô đội gạo lên chùa – Một cô yếm thắm bỏ bùa cho sư – Sư về sư ốm tương tư – ốm lăn ốm lóc cho sư trọc đầu” với lời dặn dò nghiêm khắc của vị giáo sư: “Phải học thuộc lòng vì đây là những câu ca dao tiêu biểu”, (may mắn là khi lớn lên tôi đã biết rằng, nền giáo dục mà tôi thụ hưởng đó là một nền giáo dục nối dài, ít nhất là trên căn bản tinh thần, của nền giáo dục thực dân Pháp trước đó và biết thêm nữa rằng, ca dao Việt Nam còn rất nhiều những câu châm biếm các tôn giáo khác, chứ không riêng gì Phật giáo, nhất là ở dưới các thời Minh Mạng, Thiệu Trị, Tự Đức… Còn nếu không thì thực là rất khó để tôi có thể hình dung ra được hình ảnh của một vị tu sĩ Phật giáo khả kính là như thế nào, dù có muốn đi chăng nữa).

    Thế đó. Tôi không có những uất ức của cá nhân mình. Tôi chỉ có những tủi nhục chung của cả một thế hệ đồng bào và đồng đạo – những tủi nhục thống thiết đến nỗi, đã có người phải chết vì nó – những tủi nhục mà tôi đã cảm nhận như một liên hệ với máu xương của chính mình. Nhưng dù có cảm nhận như thế, tôi vẫn chưa bao giờ để nó trở thành một thứ “mặc cảm tôn giáo” hay rõ hơn, một thứ “tình cảm uất ức vì tôn giáo” dù đây là thứ mặc cảm đã từng có ở một số người Việt Nam chúng ta. Tôi không để nó trở thành thứ mặc cảm này vì tôi không bao giờ tin rằng, sự tranh chấp tôn giáo lại là một điều có thực. Mọi sự tranh chấp mà người ta gọi là “tranh chấp tôn giáo” chỉ là những sự kiện giả tưởng trong lịch sử nhân loại. Bởi vì, không làm gì có cái gọi là tranh chấp tôn giáo khi mà mục đích của tôn giáo là Giải Thoát, là Cứu Rỗi mà ý nghĩa trước hết của nó phải là Giải Thoát, Cứu Rỗi con người ra khỏi chính vỏ bọc tôn giáo, ra khỏi tình trạng nô lệ của con người vào chính tôn giáo của mình.

    Sự “tranh chấp tôn giáo”, “mặc cảm tôn giáo”, do đó, chỉ là sự tranh chấp của con người, chỉ là cái mặc cảm của những kẻ nô lệ vào chính tôn giáo của mình, biến tôn giáo của mình thành một thứ pháo đài hay một cái vỏ bọc mà thôi.

    Đó là một phần trong căn bản ý thức của tôi. Chính trên căn bản ý thức này mà tôi không nhìn nỗi tủi nhục kia như là vấn đề tôn giáo với tôn giáo. Cũng như ngay cả với một tủi nhục thống thiết hơn – cái tủi nhục của những ngày sau 1954, theo chân những người lớn trong họ hàng đi tìm xác những người chú, người bác của tôi đã bị Việt Minh chôn sống trong khi tôi chưa biết Việt Minh là gì – ngay cả với cái tủi nhục này, về sau, tôi cũng không nhìn nó như là vấn đề người Việt với người Việt. Bởi vì, giữa những con người Việt Nam đích thực, những con người không chỉ cùng một quốc tịch mà còn là cùng một màu da, một dòng máu, một ngôn ngữ, một lịch sử hay nói một cách cụ thể và thắm thiết hơn, cùng là đồng bào với nhau, tôi không bao giờ tin rằng, lại có thể đối xử với nhau như thế. Tất cả nỗi tủi nhục này cũng như tất cả những đau thương vô hạn mà dân tộc ta đã chịu đựng, cũng như tất cả mọi cuộc chiến tranh đã diễn ra trên quê hương, tất cả đó, đối với tôi, phải được nhìn trên bình diện lịch sử. Đứng trên bình diện này mà nhìn, chúng ta sẽ thấy ra rằng, kẻ gây ra đau khổ hay kẻ chịu đựng đau khổ, tất cả đều là nạn nhân của lịch sử. Vấn đề do đó, không phải là sự thay đổi sự ưu thế của tôn giáo này bằng một tôn giáo khác, không phải là thay đổi lãnh tụ này bằng một lãnh tụ khác vì nếu chỉ có như thế thì cũng không thay đổi được cái số phận nạn nhân này. Vấn đề thiết cốt là phải thay đổi lịch sử. Tôi tin rằng, chỉ có một sự thay đổi như thế, dân tộc ta mới có thể thoát được những thảm họa điêu linh như đã có từ trước tới nay. (Tôi sẽ nói rõ hơn điểm này ở sau). Nhưng để làm được một sự thay đổi như thế – và đây là điều tôi muốn nói bằng vào những tủi nhục kia – đó là chúng ta ngày nay hãy đừng bao giờ ngang nhiên dẫm đạp lên và sống bằng cái đau thương của bất cứ ai, của bất cứ quần chúng tôn giáo nào cũng như của cả dân tộc. Chính vì thế, một phần trong kết luận của bài báo nói trên, tôi đã viết: “phải thấy rằng, cái chết của bất cứ một người dân nào – dù nhỏ bé đến đâu – tự bản chất cũng đều mang tất cả cái ý nghĩa đau khổ như cái chết của một bậc đế vương to lớn”. Đây không phải chỉ là tư tưởng. Đây là tư tưởng đối chiếu với thực tại sống của con người. Và vì thế, nó thiết yếu phải trở thành thái độ sống của mỗi chúng ta đối với đồng bào và đồng loại và là thái độ cần thiết cho một sự thay đổi lịch sử. Trong khi lịch sử đã và đang nghiền nát dân tộc ta, trong khi chủ nghĩa Cộng Sản và chế độ Cộng Sản Việt Nam đã và đang chà đạp cả dân tộc ta dưới vũng lầy đau thương, lẽ đâu một thái độ như thế lại không cần được nói lên?

    2) Bài báo của tôi hoàn toàn không có chủ ý nói về con người của Tổng thống Diệm để kết tội (hay bênh vực) ông ta cũng như hoàn toàn không có chủ ý làm công việc so sánh giữa ông Ngô Đình Diệm với ông Hồ Chí Minh hay với bất cứ một ai khác. Một cá nhân dù quan trọng thế nào và sự tôn thờ hay kết tội cá nhân đó dù được đặt ra trên căn bản nào, đối với tôi, cũng không phải là điều đáng nói trước những vấn đề bức bách cả một xứ sở điêu linh tan nát với cả một dân tộc lầm than đày đọa. Chủ ý của tôi trong bài báo đã đăng, một mặt, nhằm góp phần soi sáng một số những xuyên tạc, ngộ nhận về Phật giáo Việt Nam (có thể kể luôn cả những mạ lỵ, phỉ báng, chưởi bới nó liên tục trong sáu năm qua ở hải ngoại mà tôi tự thấy, chúng hoàn toàn không xứng đáng để thiết lập một cuộc đối thoại, trao đổi) để từ đó, nhằm phục sinh cái ý thức về vai trò và sứ mạng của người Phật tử cho công cuộc cấp cứu dân tộc ta hiện nay; mặt khác – và đây mới là chủ ý quan trọng nhất – nhằm góp phần cho một suy nghiệm đúng đắn và thắm thiết về lịch sử và thời đại của chúng ta.

    Chính trong viễn tượng đó, vấn đề mà bài báo đặt ra không phải là con người, là công hay tội của Tổng thống Diệm so với ông này, ông khác. Vấn đề là bản chất của chế độ Tổng thống Diệm trong liên hệ với bối cảnh lịch sử của thời đại, là những chủ trương, chính sách của Chính phủ ông Diệm trong liên hệ trực tiếp với quần chúng – ở đây là quần chúng Phật tử, và qua đó, trong liên hệ đến chính sinh mệnh của dân tộc. Vấn đề đặt ra như thế sẽ soi sáng như thế nào cho một suy nghiệm lịch sử? Tôi xin được nói rõ hơn điểm này.

    Tất cả những máu xương và tủi nhục của các thế hệ cha ông và của chúng ta ngày nay phải có giá trị như một đóng góp cho sự suy nghiệm cần thiết về lịch sử, nếu chúng ta không muốn nó trở thành vô nghĩa. Chính sự suy nghiệm này rồi sẽ cho chúng ta có được cái ý thức lịch sử, bao gồm cả ý thức về con đường phải đi tới của chúng ta. Lịch sử không phải là những tình cờ dầu cho chúng ta vẫn thường nói đến những tình cờ lịch sử. Lịch sử cũng không phải là một thứ Định Mệnh tiên thiên, vốn xuất phát từ những ảo tưởng bất thực trước sự bất lực tuyệt vọng của con người đối với số phận của chính mình và đồng bào, đồng loại. Lịch sử là của con người và do chính con người sáng tạo ra nó. Cái thời vay mượn Thần Linh để giải thích lịch sử của các nhà tôn giáo học đã qua rồi. Bởi vì, cuối cùng, thực tại lịch sử đã cho thấy, không phải là sự chiến thắng hay chiến bại của Thần Linh mà chính là sự chiến thắng hay chiến bại của con người, là sự thống trị hành hạ hay bao dung xây dựng của con người đối với chính con người. Có thể con người đã nhân danh Thần Linh để làm, ngay cả để giết nhau (như trong cuộc chiến tranh Do Thái và các nước Ả Rập ở Trung Đông, như cuộc Cách Mạng Hồi Giáo hiện nay ở Iran…) nhưng hậu quả thì vẫn là con người gánh chịu chứ chẳng phải một ông Thần Linh nào, (phải chăng là những kẻ lường gạt tinh minh như Fuerbach, như Marx, Engels, như Lenine, Mao Trạch Đông… đã sớm thấy điều này trước hơn chúng ta và vì vậy, họ đã nắm giữ được một phần trong cuộc vận chuyển lịch sử của thời đại ngày nay?). Trên căn bản một ý thức lịch sử như thế, đối chiếu với những nước mắt và máu xương mà dân tộc ta đã đổ ra trong hơn thế kỷ vừa qua, chúng ta sẽ suy nghiệm như thế nào về lịch sử mà chúng ta đang ở trong đó? Sự xuất hiện và tồn tại trong 9 năm của chế độ Ngô Đình Diệm (cũng như của các chế độ đã có hay đang có) tự căn bản là như thế nào?

    Câu hỏi trước hết đặt ra là: Lịch sử của chúng ta đã được vận chuyển như thế nào? Có thể nói ngay rằng, nó đã được vận chuyển trong lòng hai cuộc cách mạng: 1789 ở Pháp và 1917 ở Liên Xô. Và cả hai cuộc cách mạng này đều là con đẻ của tinh thần và văn minh Tây phương. Những nhà lập thuyết của cuộc cách mạng 1789 như Jean Jacques Rousseau, Montesquieu… khi khai sinh ra hai ý niệm tốt đẹp: Tự Do và Bình Đẳng thì sau đó, lịch sử Tây phương cũng đã khai sinh ra hai trận tuyến đối kháng với nhau: Tây phương Tư bản tôn thờ và dẫn dắt một khối người đi theo con đường Tự Do; Tây phương Cộng Sản tôn thờ và dẫn dắt một khối người đi theo con đường Bình Đẳng. Trong thực tại cuộc sống Tây phương, điều oái oăm mà chúng ta đã và đang chứng kiến là: đã Tự Do thì khó có thể Bình Đẳng và ngược lại, đã Bình Đẳng thì khó có thể có Tự Do. Sự đối kháng có tính cách quyết liệt là cái không thể không xảy ra. Nhưng điều oái oăm đó lại cộng thêm cả một sự nghiệt ngã: đó là cả hai khối đối nghịch này đều không có bản chất nhân bản và đều cùng mang chung bản chất thực dân đế quốc với sự hỗ trợ của những sức mạnh vật chất khoa học, kỹ thuật, chính sự nghiệt ngã này mà hai trận tuyến của Tây phương đó đã cuốn hút toàn bộ nhân loại vào với nó và khống chế lịch sử của hầu hết dân tộc trên thế giới.

    Việt Nam chúng ta đã không tránh được sự khống chế này. Không phải chỉ là ngày nay. Cũng không phải là từ thời ông Diệm. Phải nói là kể từ khi tiếng súng đầu tiên của Liên Quân Pháp và Tây Ban Nha bắn vào cửa bể Đà Nẵng năm 1858 (nếu không nói xa hơn), lịch sử chúng ta đã bắt đầu cho một chu kỳ mới: chu kỳ lệ thuộc vào sự khống chế này của Tây phương. Đó là chu kỳ kéo dài cho đến ngày nay mà chúng ta vẫn chưa tìm ra nẻo thoát. Bao thế hệ cha ông chúng ta đã vùng vẫy trong tuyệt vọng. Chính chúng ta ngày nay cũng đang quằn quại trong sự khống chế đó. Hãy điểm lại một số mốc thời gian sau 1858: Năm 1862 thực dân Pháp chiếm ba tỉnh miền Đông Nam phần. 1867, thực dân chiếm luôn cả Lục tỉnh. Rồi 1883, 1884, những hòa ước ra đời, chính thức hóa sự thống trị của thực dân Pháp trên toàn cõi nước ta. Đến 1930, Đảng Cộng Sản Đông Dương chính thức hành động. Đến đây thì Việt Nam không chỉ nằm trong sự thống trị của thực dân Tư Bản Tây phương mà còn lại bắt đầu chịu thêm sự thống trị của Đế Quốc Cộng Sản Tây phương và cả hai đều ở trong thế cạnh tranh nhau: một bên thì tranh để giữ quyền thống trị và một bên thì tranh để dành quyền thống trị. Xứ sở bất hạnh của chúng ta đã là nơi tập trung của cả hai mâu thuẫn lớn nhất thời đại: chúng không chỉ lấy đất làm địa bàn mà còn lấy người Việt Nam làm phương tiện cho sự tranh giành cấu xé này. Cuộc chiến tranh 1946-1954 sau đó, dù được Cộng Sản khoác lên bộ áo giải thực, tự căn bản vẫn chỉ là cuộc chiến tranh giữa hai thế lực đối kháng này. Và hậu quả của nó là sự hình thành hai nước Việt Nam với mỗi thế lực khống chế mỗi nước. Miền Bắc trong sự khống chế của thế lực Cộng Sản, miền Nam trong sự khống chế của thế lực thực dân với ít nhiều biến thái, thay đổi: Mỹ thay chân thực dân Pháp và ông Ngô Đình Diệm thay thế cho những lá bài của thực dân Pháp trước đây. Cuộc chiến tranh sau đó lại tiếp tục như một hậu thân của cuộc chiến tranh 46-54, nghĩa là tự căn bản, vẫn chỉ là cuộc chiến tranh của hai thế lực đối kháng quốc tế này và cả hai đều lường gạt con người Việt Nam để dùng nó làm phương tiện và làm vật hy sinh. Cộng Sản dùng nó để chống lại thế lực thực dân cho Cộng Sản. Ngược lại, thực dân dùng nó để chống lại thế lực Cộng Sản cho thực dân. Cả hai, bên này và bên kia đều không bao giờ đặt trên căn bản tinh thần và ý thức dân tộc. Chính vì thế mà khi Mỹ bỏ Việt Nam thì cả guồng máy chống Cộng to lớn của nó cũng sụp đổ. Chính vì thế mà khi Cộng Sản chiếm miền Nam Việt Nam xong thì công khai đưa cả nước Việt Nam vào sự lệ thuộc Đế Quốc Liên Xô. Dân tộc Việt Nam không có thắng hay bại trong cả hai cuộc chiến tranh này. Dân tộc Việt Nam chỉ là những vật hy sinh. Nhưng cũng chính vì thế mà Cộng Sản ra sức tiêu diệt các lực lượng dân tộc, không phải chỉ sau 1975 mà ngay từ khi chúng chính thức xuất hiện, dù các lực lượng này cũng chống Thực Dân (nhưng không chống trong quan điểm của Cộng Sản Tây phương). Và cũng chính vì thế mà những chế độ chống Cộng ở miền Nam cũng ra sức tiêu diệt các lực lượng dân tộc dù các lực lượng này cũng chống Cộng Sản (nhưng không chống trong quan điểm chống cộng của Tây phương). Những chủ trương, chánh sách kỳ thị tôn giáo tiêu diệt đối lập chỉ là những biểu hiện đương nhiên của cái quan điểm chống thực dân hoặc chống Cộng Sản mà không đặt trên căn bản Dân Tộc này. Từ đó, mà ta hiểu được các lực lượng dân tộc đã phải vùng vẫy và đau thương đến thế nào trong sự khống chế này. Ngày nay thì sự đau thương đó đã lên đến cực điểm và Cộng Sản thì đã xuất hiện như một cao điểm cuối cùng của sự khống chế này. Sự chấm dứt nó, nếu xảy ra, do đó, cũng chính là và phải chấm dứt cả một chu kỳ lịch sử lệ thuộc đã kéo dài trên thế kỷ nay, là sự cáo chung của những thế lực Thực dân Đế Quốc Tây phương đã khống chế lịch sử Việt Nam từ thế kỷ trước. Chính vì đặt cái nhìn của mình trên một bình diện lịch sử như thế mà tôi tin rằng, điều mà chúng ta phải làm và có thể làm được là thay đổi lịch sử. Và như đã nói, đó mới là vấn đề thiết cốt. Nếu không làm được như thế – mà trước hết là không có được một ý thức như thế – thì dù Cộng Sản có sụp đổ chăng nữa, lịch sử của chúng ta vẫn bị khống chế, vẫn ở trong chu kỳ lệ thuộc kéo dài và tình trạng chiến tranh, sự hoành hành của các thế lực thống trị và tay sai như đã có vẫn cứ còn có mà thôi. Đặt trong một cái nhìn như thế, trở lại với chế độ Ngô Đình Diệm, chúng ta sẽ hiểu bản chất của chế độ này (cũng như của các chế độ khác ở Việt Nam) là như thế nào, ta sẽ hiểu tại sao chế độ ông Diệm (cũng như các chế độ khác) lại ra sức tiêu diệt các lực lượng dân tộc đối lập và tiến hành một chính sách phá hoại các tôn giáo ở Việt Nam. Cũng đặt trong một cái nhìn như thế, ta sẽ thấy, giòng vận động cách mạng của dân tộc ta, những vùng vẫy tuyệt vọng, những đau khổ và hy sinh của cha ông ta – trong đó có cuộc vận động cách mạng 1963 của Phật giáo (cố nhiên là trừ những kẻ lợi dụng) – đã mang một ý nghĩa bi thiết như thế nào. Đàng khác, một sự phân tích về nó cũng sẽ góp phần soi sáng cho cái nhìn đặt trên bình diện lịch sử này của chúng ta. Và đó mới là cái chủ ý của tôi khi viết bài báo nói trên, chứ chẳng phải là đặt vấn đề tội (hay công) của ông Diệm so với tội (hay công) của một ông nào khác.

    Tất cả những gì tôi đang viết ở đây chỉ là một sự xác định lại cho rõ hơn, những gì tôi đã viết trong bài báo kia mà thôi. Đọc kỹ bài báo, anh sẽ thấy rõ điều đó.

    Điều đáng nói sau cùng là, anh và tôi, chúng ta có thực đang trao đổi nhau về một vấn đề trên cùng một bình diện?

    Về những câu hỏi đặt ra của anh:

    Những câu hỏi đặt ra về ông Diệm và chế độ ông Diệm

    1. Sự độc tài của ông Diệm.

    Như đã nói, tôi không làm cái công việc so sánh sự độc tài của ông Ngô Đình Diệm với ông Hồ Chí Minh. Điều tôi muốn nói là, ông Diệm đã tiến hành một chính sách tiêu diệt các tôn giáo và đảng phái quốc gia đối lập. (Lịch sử của Bình Xuyên, Cao Đài, Hòa Hảo, của Đại Việt, Quốc Dân Đảng và đương nhiên có cả của Phật giáo dưới thời ông Diệm không thiếu dữ kiện chứng minh cho điều này, không kể sự xác nhận của những nhà văn, nhà báo Việt Nam và ngoại quốc). Cũng như ông Hồ Chí Minh và Đảng Cộng Sản của ông này đã tiến hành một chính sách thủ tiêu các nhân vật, tổ chức, tôn giáo, đảng phái quốc gia. (Lịch sử đã có và đang có cũng tràn ngập những dữ kiện chứng minh cho điều này). Còn mức độ tiêu diệt, kỹ thuật tiêu diệt của mỗi ông như thế nào lại là một vấn đề khác.

    Nhưng tại sao họ – và nói riêng, ông Diệm-lại làm như thế? Tôi không thể tin rằng, con người Việt Nam Ngô Đình Diệm lại có thể làm cái chuyện tiêu diệt những đồng bào của mình. Tôi cũng không thể nghĩ rằng, con người chính trị Ngô Đình Diệm vì theo một đường lối “tùy cơ ứng biến” như anh nói mà làm việc này, bởi vì dầu có “tùy cơ ứng biến” cách nào thì một chế độ chính trị chân chính cũng không thể xây đắp sự tồn tại của mình bằng máu xương và nỗi đau khổ của đồng bào và đồng loại, trừ phi, đó là một chế độ chính trị phi dân tộc và phi nhân bản thì không kể…

    “Ông Diệm là một trong những nhà độc tài ít độc tài nhất”.

    Trên cương vị của anh, một người không từng sống dưới chế độ ông Diệm, điều này có thể đúng. Trên cương vị của một số người Việt Nam khác, dù sống dưới chế độ ông Diệm nhưng không phải là nạn nhân của chế độ này mà còn ngược lại, điều này lại càng có thể đúng. (Và có thể nói như vậy cũng còn là quá nặng đối với ông Diệm!) nhưng rất tiếc, đó lại không phải là cương vị của tôi. Trên cương vị của tôi, cương vị của một người dân bình thường, sớm cảm nhận trong liên hệ máu xương với những tủi nhục đau thương diễn ra chung quanh nơi những đồng bào, anh em bè bạn và trong cái nhục nô lệ thống thiết chung của cả dân tộc trong một chu kỳ lịch sử trên trăm năm, tôi đã không thể nào có một ý nghĩ khác hơn như đã trình bày… Nhưng trong ý nghĩ đó, như anh đã thấy nếu anh đọc kỹ, tôi đã không “trút cả tội lỗi lên đầu của một người hay một gia đình”. Ông Diệm nói cho cùng, cũng chỉ là một nạn nhân của sự khống chế lịch sử – cũng như cả dân tộc ta đã là nạn nhân của sự khống chế lịch sử này. Chỉ khác là, ông Diệm là một nạn nhân đã được một trong hai thế lực khống chế này sử dụng trong vai trò của một lá bài.

    2. Những câu hỏi liên hệ đến bản chất chế độ ông Diệm.

    Một câu hỏi được đặt ra một cách trực tiếp của anh: “Tướng De Gaulle nhờ phe đồng minh yểm trợ nên mới có thể về giải phóng nước Pháp, có phải là một hành động nô lệ không?” Nếu tôi không lầm, anh muốn dùng câu trả lời cho câu hỏi này để làm câu kết luận cho việc ông Ngô Đình Diệm về nước và xây dựng chế độ của ông?

    Tôi không thấy có một sự tương tự nào ở đây.

    Lý do trước hết là vai trò của nước Pháp – dẫu là một nước Pháp đã thua trận và bị xâm chiếm bởi Đức Quốc Xã – hoàn toàn không giống với vai trò của nước Việt Nam. Trong cái thế đồng minh tạm bợ của hai thế lực Tư bản và Cộng Sản bấy giờ để chống lại đường lối Quốc Xã của Hitler, nước Pháp đã là một phần của thế lực Tư Bản.

    Trong khi, Việt Nam, dầu có thất trận hay thắng trận gì đi nữa, trong bối cảnh của 1954, vẫn chỉ là một nạn nhân của chính thế lực này (và đương nhiên của cả thế lực kia). Sự giúp đỡ để hồi phục sức mạnh cho nước Pháp – nghĩa là cho chính thế lực Đồng Minh này, không thể có cùng ý nghĩa như là sự giúp đỡ cho một nạn nhân để tiếp tục nắm lấy sự khống chế lịch sử đối với nạn nhân này.

    Hai nữa, ông Diệm đã không có được cái vai trò chủ động như ông De Gaulle và Tổ chức Pháp Tự Do của ông này trong việc giải phóng đất nước. Ông De Gaulle đã chiến đấu trong hàng ngũ Đồng Minh của ông, đã tổ chức với sự hỗ trợ của quân đội Đồng Minh cho sự giải phóng nước Pháp. Trong khi đó, ông Diệm đã không phải là một con người chiến đấu, không phải là một con người đã lãnh đạo và tổ chức cuộc chiến đấu giải phóng đất nước Việt Nam khỏi những kẻ thù đô hộ bấy giờ. Ông Diệm đã được Mỹ đưa về tạm thời sắp xếp bởi những thế lực Tây phương; họ sắp xếp ngay cả chỗ ngồi của ông Diệm. Vị trí của De Gaulle trong lòng dân tộc Pháp, vì thế, không giống vị trí của ông Diệm trong lòng dân tộc Việt Nam. Câu trả lời cho câu hỏi của anh ở đây, do đó cũng không làm chuyển đổi gì được cho một đánh giá lịch sử, nếu cần có, về ông Diệm và chế độ của ông.

    Một câu hỏi khác cũng được đặt ra một cách trực tiếp của anh: “Tác giả Lê Quân nghĩ sao về số 200.000 lính Hoa Kỳ tại Cộng Hòa Liên Bang Đức để so sánh với số 18.000 cố vấn quân sự thời Ngô Đình Diệm? Đức có bị lệ thuộc hay nô lệ Hoa Kỳ không?”

    Số phận nước Đức bị chia đôi sau khi đệ nhị thế chiến chấm dứt không phải là một điều ngẫu nhiên, cũng không phải là ý muốn của dân tộc Đức. Hội nghị Yalta (từ ngày 3 đến ngày 11/2/1945) là Hội nghị đã trực tiếp quyết định cho số phận của nước Đức ngày nay. Ở Hội nghị này, dân tộc Đức trong tư thế bại trận của mình, đã không thể có được tiếng nói nào. Chính Mỹ, Anh, và bên kia là Liên Xô đã quyết định theo sự phân chia vùng ảnh hưởng của họ: Đông Đức nằm trong quỹ đạo của Cộng Sản Liên Xô và Tây Đức nằm trong quỹ đạo của Mỹ và Đồng Minh Tây phương. Sự hiện diện của 200.000 lính Hoa Kỳ tại Tây Đức dù được quan niệm như thế nào, cũng là một chứng tỏ sự lệ thuộc, xuất phát từ hậu quả của Hội nghị Yalta như đã nói.

    Nhưng điều đáng nói hơn là, mặc dầu cùng trong một tình trạng đất nước bị phân chia như Việt Nam trước đây, lịch sử nước Đức, tương quan của nước Đức với các thế lực Tây phương (cả Tư Bản và Cộng Sản) và những lãnh tụ của Tây Đức sau này đã không giống với lịch sử nước ta, không giống với tương quan của nước ta với các thế lực Tây phương cũng như không giống với các lãnh tụ của Việt Nam… Chính vì thế mà mức độ và tính chất lệ thuộc của nó cũng khác.

    Một trong những biểu hiện của cái khác đó là ở chính cái điều anh đưa ra: một bên là 200.000 lính, còn một bên là 18.000 cố vấn quân sự. Phân biệt được người lính với vị cố vấn, tôi nghĩ là anh thấy ra được sự khác biệt này.

    (Tôi nghĩ rằng, những nhà lãnh đạo và cả dân tộc Tây Đức ngày nay đã và đang cố gắng bằng những nỗ lực khôn khéo nhất để thoát hẳn sự lệ thuộc này và để giải phóng cho phần còn lại là Đông Đức đang bị khống chế bởi Liên Xô hầu mở đường cho một lịch sử mới của toàn thể dân tộc Đức. Còn chúng ta?)

    Anh cũng đã đưa ra một số chi tiết để nhằm chứng minh cho tính chất “độc lập” của ông Diệm và Chính phủ của ông đối với Mỹ. Tôi thấy, dù xác thực chăng nữa, cũng không đủ để chứng minh điều này, nhất là không đủ khi đặt nó bên cạnh những gì mà ông Diệm đã làm đối với các nhân vật, đảng phái chính trị quốc gia đối lập với ông (Đại Việt, Quốc Dân Đảng, nhóm Caravelle…) cũng như đối với các tôn giáo không phải là tôn giáo của ông (Cao Đài, Hòa Hảo, Phật Giáo…). Cái chính sách tiêu diệt các nhân vật, đảng phái và tôn giáo này, nếu chưa nói là cái chính sách tàn độc, thiếu lương tâm dân tộc trong việc xây đắp chế độ của ông thì, cũng cho thấy, cái căn bản phi dân tộc trong việc chống Cộng của ông Diệm. Đây là điều tôi đã phân tách trong bài báo trên, xin khỏi nhắc lại.

    Mặt khác, khi anh lưu ý là không nên quên những chi tiết đó thì anh cũng không nên quên rằng, những chi tiết đó đã chỉ xảy ra trong những năm cuối cùng của chế độ ông Diệm – nghĩa là sau khi sự chống đối ông Diệm đã trở nên công khai và nhất là, đã trở thành một phong trào quần chúng trên khắp toàn quốc, và kéo theo nó, cả dư luận quốc tế, dư luận của công chúng Mỹ cũng bất lợi cho sự duy trì của ông và chế độ của ông. Ít nhất sự chống đối của quần chúng Việt Nam và của công luận Mỹ này cũng góp phần cho cái quyết định của Chính phủ Kennedy lúc bấy giờ – quyết định thay thế ông Diệm bằng một con cờ khác khi thấy rằng con cờ cũ đã không còn lôi kéo và đánh lừa được dân chúng Việt Nam và công luận Mỹ. Ông Diệm, qua những bày tỏ công khai của các nhân vật trong chính quyền Mỹ – kể cả của Tổng thống Mỹ J.F. Kennedy, qua những cuộc thăm dò thái độ và ý nghĩ của các nhân vật thân cận như Linh mục Cao Văn Luận chẳng hạn (xin xem lại quyển Bên Giòng Lịch Sử của Linh mục Luận), chắc chắn biết rõ cái ý định loại bỏ ông của Chính phủ Mỹ. Do đó, ông Diệm, ông Nhu có tức giận Mỹ, chống đối Mỹ, có tìm cách cho lính giả làm Việt Cộng để mưu sát một số tùy viện quân sự Hoa Kỳ tại Việt Nam như anh nói thì cũng là điều dễ hiểu. Nó dễ hiểu như chuyện một thuộc hạ quay lại thù và chống ông chủ của mình khi người thuộc hạ biết rằng, chính ông chủ đang tìm cách giết mình. Cuối cùng, ông Diệm đã chết – ông Diệm đã chết như một con cờ trở thành nạn nhân của Mỹ chứ không phải là đã chết như một người con của dân tộc chết cho sự nghiệp dân tộc mình. Cái chết đó, đối với tôi, cũng mang tất cả cái tính chất của một thảm kịch chính trị tàn bạo trong nền chính trị cơ tâm của thế giới ngày nay.

    Cũng như thế, cái chuyện mà anh nói: “Vì bất đồng ý kiến với đường lối “xâm phạm vào nội bộ Việt Nam” nên chính ông Diệm và ông Nhu đã ngầm liên lạc với chính quyền Hà Nội (qua Đại sứ Ấn Độ tại Sài Gòn và Uỷ Viên Ấn Độ trong ủy Hội Quốc Tế Kiểm Soát Đình Chiến) để đi đến một cuộc ngưng bắn và thỏa hiệp”, chúng ta nên hiểu như thế nào? Ngay trong câu của anh, tôi vừa trích lại đây cũng có thể cho thấy một phần, đâu là động cơ của cái việc ông Diệm và ông Nhu ngầm liên lạc với chính quyền Hà Nội. Hai ông đã làm như thế không phải vì quyền lợi của dân tộc, không phải vì muốn chấm dứt cuộc chiến tranh gây khổ đau cho dân tộc mà chỉ vì – như anh nói – “bất đồng ý kiến với đường lối “xâm phạm vào nội bộ Việt Nam” của Mỹ”. Có hai điều đáng nói ở đây: Một, đường lối “xâm phạm vào nội bộ Việt Nam” của Mỹ đã có từ lâu, ít nhất là từ 1954. Điều này, trên cương vị của mình, ông Diệm phải biết rõ hơn ai hết. Nhưng tại sao đến lúc này hai ông mới bất đồng ý kiến với nó? Không thể có câu trả lời nào khác là, bởi vì đường lối đó cho đến lúc này đang đe dọa đến cái ghế Tổng thống của ông Diệm và sự sống còn của chế độ này. Thế thì, nói một cách rõ ràng hơn, ông Diệm, ông Nhu đã hành động như thế chỉ vì quyền lợi của hai ông mà thôi. Hai, đã “đồng minh” với Mỹ để chống lại kẻ thù là chính quyền Cộng Sản Hà Nội, đến khi thấy “người bạn đồng minh” này không tốt với mình lại quay mặt tìm cách bắt tay, thỏa hiệp với kẻ thù, hành động đó của ông Diệm rõ ràng là một hành động phản bội đồng minh và quan trọng hơn, nếu ông Diệm xem đường lối chống Cộng của mình là đúng, Hiến pháp Đệ Nhất Cộng Hòa là phù hợp với quyền lợi của dân tộc thì hành động này của ông Diệm cũng còn là một phản bội với dân tộc. Và phản bội chỉ vì quyền lợi của cá nhân và gia đình mình mà thôi. Đau đớn cho dân tộc và cho những người đã tin vào cái lý tưởng chống Cộng của ông Diệm biết bao!

    Những câu hỏi liên quan đến tình trạng tôn giáo dưới chế độ Tổng thống Diệm

    1. Anh nói: “Chúng tôi chưa thấy khi nào Chính phủ Ngô Đình Diệm tuyên bố (qua các sắc lệnh hay đạo dụ) coi Công Giáo (chứ không phải Thiên Chúa giáo) như một Quốc giáo”.

    Trước hết, xin có cái chuyện chính danh, bởi vì, nếu không thì thật khó để tôi có thể trao đổi với anh về điều này. Tôi thật ngạc nhiên khi thấy anh xác định Công giáo chứ không phải Thiên Chúa giáo. Bởi vì, trong sách vở của các sử gia, học giả và ngay cả của các nhà cách mạng lớn của dân tộc, tôi đã không thấy ai dùng chữ Công giáo hoặc xác định Công giáo không phải là Thiên Chúa giáo như anh. Xin đưa ra một vài dẫn chứng tiêu biểu:

    * Cuốn “Lịch Sử Đạo Thiên Chúa ở Việt Nam” có lời đề tựa của Đức Khâm Mạng Frant Drapier do nhà Đại Việt Thiện Bản xuất bản tại Huế năm 1944 chỉ dùng chữ Đạo Thiên Chúa, Thiên Chúa giáo, Đạo Gia Tô. Không có chữ Công giáo.

    * Cuốn “Việt Nam Vong Quốc Sử” của Cụ Phan Bội Châu và bài Cụ kêu gọi Giáo dân nên trở về với đồng bào ruột thịt để đánh Tây chỉ dùng chữ Đạo Gia Tô hay Thiên Chúa Giáo, không có một chữ Công Giáo nào.

    * Cuốn “Chu Tri Lục” của nhà Cách mạng Lý Đông A lại chỉ dùng chữ Gia Tô giáo mà thôi, cũng không có chữ Công giáo.

    * Cuốn “Việt Nam Sử Lược” của Cụ Trần Trọng Kim, cuốn “Việt Nam Văn Hóa Sử Cương” của Đào Duy Anh đều chỉ dùng chữ Thiên Chúa giáo, Ki Tô giáo hay Cơ Đốc giáo, không có chỗ nào dùng chữ Công giáo.

    * Ngay dưới chế độ ông Diệm, nhiều sử sách cũng chỉ dùng chữ Thiên Chúa giáo hay Đạo Gia Tô, không dùng chữ Công giáo nào như cuốn “Việt Sử Toàn Thư” của Phạm Văn Sơn xuất bản tại Sài Gòn năm 1960, cuốn “Việt Nam Pháp Thuộc Sử” của Phan Khoang do nhà Khai Trí xuất bản năm 1961.

    * Sau này, cuốn “Lịch Sử Nội Chiến Việt Nam 1771-1802” của giáo sư Tạ Chí Đại Trường xuất bản năm 1973 nói rất nhiều đến việc các giáo sĩ Tây phương giúp Gia Long đánh Nguyễn Huệ và việc giáo sĩ Pigneau de Béhaine dạy cho Hoàng tử Cảnh những hành động bất hảo đối với Phật giáo cũng không có một chữ Công giáo nào, chỉ dùng chữ Thiên Chúa giáo hay Gia Tô giáo.

    Vậy thì, để chính danh – nhất là chính danh trong truyền thống sử dụng ngôn ngữ mà lịch sử đã có – chúng ta nên dùng chữ Công giáo hay Thiên Chúa giáo, nếu hai chữ này đều chỉ cùng một tôn giáo? Hoặc giả, nếu hai chữ này chỉ cho hai tôn giáo khác nhau thì lịch sử xuất hiện và phát triển của Đạo Công giáo (chứ không phải Thiên Chúa giáo) ở Việt Nam và ở trên thế giới là như thế nào? là Catholicisme hay Réligion officielle? Và nếu quả có một tôn giáo như thế (không phải là Thiên Chúa giáo – Catholicisme) thì đó không phải là tôn giáo mà tôi đề cập đến trong bài báo đã đăng cũng như ở đây.

    (Theo tôi biết, dưới thời Tổng thống Diệm, chữ Công giáo được dùng khá phổ biến trong chính quyền và trong giáo dân Thiên Chúa giáo nhưng không phải là dùng để chỉ cho một tôn giáo nào khác với Thiên Chúa giáo mà lịch sử của nó đã có ở Việt Nam hàng mấy trăm năm nay và nằm trong hệ thống toàn cầu của tổ chức Tòa Thánh Vatican. Chữ này đã được dùng dưới thời ông Diệm để dịch chữ Catholicisme trong tiếng Pháp, dù là gần với ý nghĩa của nó trong nguyên ngữ, nhưng mặt khác còn với một dụng ý khá rõ rệt (dù không được xác định bằng văn kiện nào): đây là tôn giáo công, tôn giáo của chính quyền, của quốc gia (theo ý nghĩa của từ Hán Việt) và như thế, một cách mặc nhiên, để phân biệt với các tôn giáo khác như là những tôn giáo tư, tôn giáo không phải của chính quyền, của quốc gia. Một số cuốn sách, tiểu thuyết sau đó, trong tình trạng phổ biến của chữ Công giáo lúc bấy giờ cũng đã dùng chữ này vì nó trở nên quen thuộc và vì nó ngắn gọn hơn các chữ khác).

    Trở lại vấn đề, tôi cũng thấy như anh là chưa khi nào Chính phủ Ngô Đình Diệm tuyên bố (qua sắc lệnh hay đạo dụ) coi Thiên Chúa giáo (hay Công giáo, nếu anh chỉ muốn dùng chữ này) là quốc giáo. Điều này dễ hiểu. Ông Diệm, dù thế nào chăng nữa chắc chắn cũng phải có một sự khôn ngoan chính trị và một sự hiểu biết tối thiểu về dân tộc và xã hội Việt Nam. Chỉ cần một sự khôn ngoan và hiểu biết tối thiểu như thế là cũng đủ để không cho phép ông Diệm làm điều này bởi vì, nó sẽ là một sự áp đặt lộ liễu, trắng trợn và hoàn toàn không có một chút khôn ngoan chính trị nào trên một dân tộc mà số lượng giáo dân Thiên Chúa giáo đã và chỉ là thiểu số. Anh cũng nên biết thêm rằng, tình trạng pháp lý của Giáo Hội Thiên Chúa giáo Việt Nam dưới thời ông Diệm là một tình trạng thả lỏng, vì không có một văn kiện nào ấn định. Trong khi các tôn giáo khác có căn bản pháp lý của nó là đạo dụ số 10 từ chế độ thực dân Pháp để lại, liệt các tôn giáo này như tất cả các hiệp hội thường với những điều kiện hết sức khắc nghiệt thì giáo hội Thiên Chúa giáo lại không có một văn kiện nào khác làm căn bản, mặc dù điều 44 của đạo dụ nói trên ghi rằng sẽ có “chế độ đặc biệt cho các Hội Truyền Giáo Thiên Chúa và Gia Tô”. Nhưng một chế độ đặc biệt như thế lại chưa bao giờ được ban hành. Và như thế, căn bản pháp lý của Giáo Hội này không có. Tại sao? Chỉ có hai lý do để giải thích: Hoặc thả lỏng như thế để chính quyền dễ dàng bóp nghẹt khi cần; Hoặc thả lỏng như thế để tôn giáo này muốn làm như thế nào cũng được. Thực tế dưới thời ông Diệm đã cho thấy lý do nào là đúng.

    Thực tế đó, với những dữ kiện mà tôi đã đưa ra trong một mục nhỏ ở bài báo đã đăng trong Khai Phóng số 3 trang 46, 47, 48: “sự khuynh loát chế ngự gần như toàn bộ đời sống tinh thần, văn hóa, chính trị, xã hội của quốc gia của Thiên Chúa giáo dưới chế độ Ngô Đình Diệm”, tôi nghĩ là đủ để cho chúng ta kết luận như thế nào, xin được miễn nói lại hay nói thêm, dù tôi hiện đang có những dữ kiện khác.

    2. Anh nói rằng: “không biết Chính phủ ông Ngô Đình Diệm có ra một sắc lệnh nào bảo rằng đạo dụ số 10 của Cựu Quốc trưởng Bảo Đại có hiệu lực”. Tôi chưa thấy có một sắc lệnh nào như thế nhưng tôi cũng chưa thấy có một sắc lệnh nào bảo rằng đạo dụ số 10 là không còn hiệu lực. Một đạo dụ được ban hành và khi không có một văn kiện hành chánh nào khác hủy bỏ nó đi thì hiệu lực của đạo dụ đó có còn hay không? Một hiểu biết sơ đẳng về nền hành chánh của quốc gia cũng có thể cho ta thấy được. Nhưng đây chỉ mới là lý luận. Quan trọng của vấn đề vẫn là ở thực tế. Thực tế đó là, Phật giáo đã công khai đặt vấn đề này với Chính phủ Ngô Đình Diệm, đã nêu nó lên như một nguyện vọng của Phật giáo đồ Việt Nam trong bản Tuyên Ngôn mở đầu cho cuộc tranh đấu năm 1963 và đã không được thỏa mãn. Thực tế đó cũng là, trong tất cả các văn kiện, nghị định cho phép Phật giáo lập Hội từ chế độ Ngô Đình Diệm đến cả sau 1963 của Chính phủ đều có ghi rõ: “chiếu dụ số 10 ngày 6-8-1950 sửa đổi bởi dụ số 24 ngày 19-1-1952 và dụ số 7 ngày 3-4-1954 ấn định quy chế các Hiệp hội”. Thực tế đó cũng còn là, mãi đến thời tướng Nguyễn Khánh mới có một Sắc Luật ký ngày 14-5-1964, trong đó, điều 5 ghi rằng: “Dụ số 10 ngày 6-8-1950 cùng các luật lệ trái với sắc luật này, không áp dụng đối với Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất”.

    Cho nên, nếu “điều chắc chắn là trong Hiến Pháp Đệ Nhất Cộng Hòa xem tất cả các tôn giáo tại Việt Nam đều có quyền và bổn phận như nhau” thì cũng là chắc chắn khác, đạo dụ 10 là căn bản pháp lý cho Phật giáo và các tôn giáo khác (trừ Thiên Chúa giáo) ở Việt Nam từ ngày 6-8-1950 đến ngày 14-5-1964.

    3. Về những đối xử có tính cách kỳ thị tôn giáo dưới chế độ ông Diệm, tôi cũng muốn tin rằng, đó chỉ là những lạm dụng quyền hành ở cấp dưới. Nhưng lòng muốn tin mà vẫn không tin được vì sự đối xử kỳ thị đó đã xuất phát, không chỉ ở cấp dưới, mà còn xuất phát từ Tổng thống phủ và từ những kẻ nắm quyền thực sự trong chế độ Tổng thống Ngô Đình Diệm ở Trung Ương cũng như ở địa phương. Việc cấm treo cờ Phật giáo năm 1963 đâu phải là do một chỉ thị nào ở cấp dưới. Chỉ thị đó đã xuất phát từ Tổng thống phủ đến vị Đại biểu Chính phủ rồi đến Tỉnh trưởng! Việc duy trì đạo dụ số 10, cấp dưới dù có lạm dụng quyền hành cách mấy, cũng không thể có cái quyền đó. Việc tổ chức có tính cách quốc gia hóa một số ngày lễ của tín đồ Thiên Chúa giáo cũng đâu phải chỉ cục bộ trong một số địa phương? Để làm một so sánh với sự kỳ thị này, anh đưa ra trường hợp: “sau khi đã hạ bệ được Diệm, Nhu, Cẩn, phe Phật giáo đã lần lượt đốt phá một số nhà người Công giáo công chức (của chế độ Diệm-Nhu) tính từ Huế trở vô đến Nha Trang. Lúc ấy, tôi có cảm tưởng là phe Phật giáo làm một công việc như Thập Tự Quân (thời Trung Cổ) đi đánh người Ả Rập vậy! Các làng đông người Công giáo, nhất là ở Đà Nẵng (Nội Hà, Chính Trạch, Thanh Bồ, Đức Lợi), Quảng Ngãi, Quy Nhơn, và Tuy Hòa… bị bao vây và khủng bố (với sự đồng lõa của ông Nguyễn Chánh Thi)”.

    Tôi có thể khẳng định ngay rằng, đây là một sự vu khống và là một sự vu khống có ác ý, nhằm đào sâu hố chia rẽ giữa Phật giáo với Thiên Chúa giáo. Anh có thực hiểu rõ và có đủ bằng chứng xác thực khi nói lên điều này không? Anh có biết rõ rằng, ai và động cơ nào đã gây ra những vụ trên, ngay cả vụ 1966 ở giữa thủ đô Sài Gòn? Và họ gây ra với mục đích gì không? Anh có biết rõ trong tổ chức Phật giáo, trên căn bản tinh thần của một nền giáo lý tôn trọng tự do con người, các nhà lãnh đạo Phật giáo không bao giờ có cái quyền ra lệnh cho quần chúng Phật tử không? Họ chỉ duy nhất có một cái quyền là kêu gọi. Và họ đã kêu gọi quần chúng Phật tử như thế nào trong những ngày sau 1-11-1963 và trong vụ 1966, anh có biết? Nếu anh biết tất cả những điều đó, tôi tin rằng anh đã không viết như thế. Xin anh đọc lại bài “Thêm một nạn nhân của nạn lộng quyền ở trại Songkhla” trong Khai Phóng số 4 trang 33, 34 để biết đâu là sự thực của một trong những điều anh nói ở trên. Cũng xin đọc lại quyển Bên Giòng Lịch Sử của Linh mục Cao Văn Luận để biết vị Linh mục này đã nói gì về tình trạng giữa Phật giáo với Thiên Chúa giáo trong những ngày sau khi ông Diệm bị lật đổ. Không những là không có một sự trả thù nào mà ngay cả cái thái độ kỳ thị cũng đã không có. Bởi vì nếu có thì đã không có cái việc sinh viên Đại học Huế (mà tôi có thể khẳng định rằng hầu hết là Phật tử) đón mừng với tất cả tình cảm tốt đẹp một vị tu sĩ Thiên Chúa giáo trở lại làm Viện trưởng Viện Đại Học Huế ngay sau biến cố 1-11-63. Ít nhất, sự kiện này cũng cho thấy rằng, Phật giáo – và ngay cả trong quần chúng Phật tử đấu tranh chống chế độ ông Diệm, đã không hề mang mặc cảm, thành kiến với những người Thiên Chúa giáo, đã không hề đặt vấn đề Phật giáo với Thiên Chúa giáo, mà chỉ đặt vấn đề về chính sách kỳ thị tôn giáo đối với người lãnh đạo quốc gia mà thôi.

    Hẳn nhiên, sự sụp đổ của một chế độ không thể không gây ra những phản ứng tình cảm tự phát của quần chúng – những phản ứng nhiều khi quá đáng và không nên có, nhất là đối với những người nắm quyền đã một thời gây đau thương cho họ. Nhưng phản ứng tình cảm tự phát của quần chúng thì tuyệt đối không phải là một hành động

    • Nhưng phản ứng tình cảm tự phát của quần chúng thì tuyệt đối không phải là một hành động có tổ chức, có chủ trương hay là do “những lạm quyền ở cấp dưới”.

      (Ở đây, tôi xin mở ngoặc để nói đến một sự lầm lẫn mà đáng ra, anh đã không nên có khi anh viết rằng, tôi “chỉ căn cứ vào một số sách vở người ngoại quốc viết…”. Bài báo còn đó, anh có thể đọc lại và đọc hết để biết điều anh nói là đúng hay sai. Nhưng điều đáng nói chưa phải là chỉ căn cứ vào sách vở của người ngoại quốc hay là có cả và có nhiều sách vở của người Việt Nam hay là cả chính những tài liệu từ trong cuộc. Điều đáng nói là tất cả những dẫn chứng, tài liệu đó, tôi đã ghi nhận không phải với tư cách của một người không biết gì về những thực tế chúng nói đến mà là của một người đã từng nghe, từng biết, từng sống với những thực tế mà chúng nói đến đó. Tiếc thay đó lại là các thực tế mà “anh đã không phải sống” vậy thì tôi còn biết nói sao bây giờ, ngoài việc xin ở anh một sự thận trọng tối thiểu đối với tất cả những gì anh viết!

      4. Anh nói rằng: “Phong trào chống đối chưa phải tiên thiên là một cuộc cách mạng hay cuộc vận động cách mạng, nhất là khi chống đối vì “tôn giáo bị đàn áp”. Anh hiểu thế nào là cách mạng? thế nào là vận động cách mạng? Ở đây, tôi chưa muốn tranh luận với anh về vấn đề danh từ. Ở đây tôi chỉ xin lưu ý anh rằng, không phải chỉ có cách mạng của người Cộng Sản hay cách mạng trong truyền thống lịch sử của các xã hội Tây phương. Lịch sử Việt Nam có truyền thống cách mạng của chính nó và là người Việt Nam, chúng ta phải ý thức thắm thiết với truyền thống cách mạng này. Phật giáo cũng có truyền thống cách mạng với tinh thần đặc biệt của nó, khác với cái tinh thần của những tôn giáo khác. Không nên lấy Cách Mạng 1789 ở Pháp hay 1917 của Liên Xô làm khuôn mẫu và tiêu chuẩn đánh giá cho cuộc cách mạng của dân tộc ta hay của Phật giáo hay của bất cứ một tôn giáo nào.

      Vậy thì truyền thống cách mạng của lịch sử Việt Nam là gì? đó chính là truyền thống xây dựng ý thức độc lập, tự chủ của dân tộc trước những thế lực xâm lăng, đô hộ của ngoại bang và tay sai. Đó chính là truyền thống đánh đuổi các thế lực xâm lăng, đô hộ này ngay từ thời lập quốc cho đến mãi bây giờ, từ thế lực xâm lăng và đô hộ của Tàu, đến thế lực xâm lăng và đô hộ của Thực dân Pháp và đến ngày nay, thế lực xâm lăng và đô hộ của Đế Quốc Cộng Sản Liên Xô. Đó chính là truyền thống xây dựng một nước Việt Nam độc lập, tự chủ, nằm ngoài sự khống chế của các thế lực này. Phải hiểu như thế thì chúng ta mới hiểu được ý nghĩa và giá trị của những hy sinh của tiền nhân trong suốt mấy ngàn năm, mới thấy được chúng ta có hay không một sự liên hệ máu xương với quá khứ và mới biết được rằng, đâu là chỗ đứng và là công việc phải làm của chúng ta ngày nay trên tư cách những người con của dân tộc. Cũng phải hiểu như thế thì anh mới thấy rằng, tại sao tôi đã gọi cuộc vận động năm 1963 của Phật giáo là một cuộc vận động cách mạng. Tôi xin được nói rõ điểm này.

      Trong 5 nguyện vọng của Phật giáo Việt Nam được ghi ở trong bản Tuyên Ngôn mở đầu cho cuộc vận động 1963, sau đó được giải thích thêm ở Bản Phụ Đính, nguyện vọng có thể nói quan trọng nhất và căn bản nhất là nguyện vọng thứ hai: chấm dứt sự ràng buộc các tôn giáo và đạo dụ số 10, hay nói cách khác, hủy bỏ đạo dụ này. Tại sao nó là nguyện vọng quan trọng và căn bản? Thứ nhất, vì đạo dụ số 10 là một văn kiện pháp lý chứa đựng những bất công thiên vị và là một trong những căn bản của tình trạng kỳ thị tôn giáo. Thứ hai, và đây mới là lý do quan trọng vì nó giải thích cho cái lý do thứ nhất ở trên – Nó là một đạo dụ của chế độ thực dân Pháp ở Việt Nam. Cuộc vận động hủy bỏ nó, do thế, phải được quan niệm như là một cuộc vận động tiếp nối giòng cách mạng chống thực dân Pháp của dân tộc ta và Phật giáo Việt Nam đã bắt đầu từ cả 100 năm trước đó – dẫu là ở đây, nó không trực diện đấu tranh với thực dân Pháp mà chỉ là để chấm dứt sự tiếp nối chế độ thực dân này ít ra là trên phương diện tôn giáo.

      Mặt khác, nếu quan niệm “công bằng xã hội” là một lý tưởng cao đẹp và cần thiết thì tại sao, ta không có thể gọi, cuộc vận động cho việc thực hiện lý tưởng này trong một xã hội đầy rẫy bất công và kỳ thị là một cuộc vận động cách mạng?

      Chính trên cả hai quan điểm lịch sử và xã hội như thế mà tôi đã gọi cuộc vận động 1963 của Phật giáo là một cuộc vận động cách mạng.

      Còn tinh thần Phật giáo đã được biểu hiện như thế nào trong cuộc vận động cách mạng này? Điều mà bất cứ ai đã từng sống ở thời kỳ này cũng thấy là, Phật giáo đã-không-có-như-đã-không-bao-giờ-có những đội quân như “Thập Tự Quân” (thời Trung Cổ) đi đánh người Ả Rập. Phật giáo đã chỉ vận dụng tinh thần và phương pháp bất bạo động. Và đâu có phải vì vận dụng tinh thần và phương pháp bất bạo động mà nó lại không có tính chất cách mạng?

      Anh đòi hỏi tôi đưa ra một vài con số về tín đồ Phật giáo ủng hộ và xuống đường trong khoảng trước 1-11-63 và tỷ số Phật giáo. Làm sao tôi có thể đưa ra một con số xác thực khi mà hầu hết ở các tỉnh thị miền Nam Việt Nam lúc bấy giờ đều tràn ngập những cuộc xuống đường, những cuộc đình công bãi thị và những cuộc bãi khóa của sinh viên, học sinh. Hình ảnh của nó còn đó cũng như hình ảnh biểu hiện nỗi vui mừng của dân chúng Việt Nam trong ngày 1-11-63 còn đó. Tôi lại vẫn chỉ tiếc là “anh đã không phải sống” trong những ngày tháng này ở Việt Nam để biết một cách cụ thể, cuộc vận động này có hợp lòng dân và có được số đông quần chúng ủng hộ hay không.

      Còn tỷ số Phật giáo? nhiều người-kể cả những người Thiên Chúa giáo-đã nói đến tỷ số 80% dân chúng Việt Nam là Phật giáo. Cá nhân tôi, tôi không tự hào gì về con số 80% này cả.

      Anh cũng còn đặt một câu hỏi: “Thế thì tại sao Phật giáo đã không đủ sức để vận động đưa “cách mạng đến thành công” nhất là dưới trào Phan Khắc Sửu? Vì lúc đó Giáo hội “Thiên Chúa giáo” đã bị lép vế kia mà?”

      Đảo chánh thì dễ, cách mạng mới là chuyện khó khăn hơn nhiều. Đúng là Phật giáo đã không đủ sức để vận động “đưa cách mạng đến thành công” kể từ sau 1963 đến nay. Không đủ sức vì bản thân của tổ chức Phật giáo vốn lỏng lẻo, vốn không có một nền tảng về khoa học, kỹ thuật tổ chức và vì vậy, tự thân nó có những vấn đề mà nó chưa giải quyết được. Nhưng lý do quan trọng hơn nữa là vì sự khống chế của các thế lực ngoại bang và tay sai trên đất nước ta trong chu kỳ lệ thuộc này của lịch sử.

      Có một điều cần phải nói trong câu hỏi của anh trên đây. Đó là cái căn bản ý thức sai lầm và tác hại mà anh đã có khi đặt câu hỏi trên. Tại sao lại “vì lúc đó Giáo Hội Thiên Chúa giáo đã bị lép vế kia mà!” Phật giáo đã có bao giờ sống trên sự “lép vế” của những tôn giáo khác đâu. Đạp kẻ khác xuống cho mình đi lên, xây dựng sự nghiệp của mình trên những đau thương, tủi nhục của kẻ khác, cầu cho kẻ khác yếu đi, chết đi để cho mình được mạnh, được sống, anh có biết, chính cái ý thức đó đã làm tan nát dân tộc ta? Ngày nay, mà chúng ta vẫn còn mang cái ý thức và cung cách suy nghĩ đó thì biết đến bao giờ, nước mới được cứu, dân mới được yên?

      Một câu hỏi khác nữa của anh: “chúng ta nghĩ sao về thái độ của một thầy Thích Trí Quang xin tị nạn vào Tòa Đại Sữ Mỹ?”. Tôi thấy không có gì phải nghĩ về thái độ này. Trong cuộc hành quân tấn công tàn bạo vào các chùa trên khắp toàn quốc đêm 20-8-1963 – thành tích lớn nhất và đáng ghê tởm nhất của ông Diệm trong việc triệt hạ Phật giáo – và trong cuộc truy lùng để bắt giam các tu sĩ Phật giáo vào những ngày sau đó, không lẽ điều đáng làm, nên làm của một thầy Thích Trí Quang (hay của bất cứ một ai khác) là tự nộp mình cho ông Diệm?

      Anh ngày nay đang tị nạn ở đất Pháp (?) Tôi không tin rằng, vì tị nạn như thế mà anh lại tự nhiên trở thành tay sai của Pháp. Đúng hay chăng ?

      KẾT LUẬN

      Để kết thúc, tôi muốn ghi lại đây hai hình ảnh mà đối với tôi, đã rực rỡ như hai biểu tượng cao cả của nhân tính: Một vị tu sĩ Thiên Chúa giáo đã từ bỏ tất cả mọi chức quyền cao sang để được sống lặng lẽ cùng với những con người đau khổ nhất trần gian tại một trại cùi ở Di Linh và đã chết trong tấm lòng yêu thương và ngưỡng mộ sâu xa của những con người đau khổ đó. Một hình ảnh khác mà tôi đã được biết ngay khi đang còn ở trại tị nạn Pulau Bidong, Linh mục Joe Devlin, người đã âm thầm sống cuộc đời của một kẻ “chăn chiên” giữa những vùng đất nghèo khó ở miền Nam Việt Nam trước 75; và sau 75 đã tự nguyện tìm tới sống với những người dân tị nạn ở trại Songkhla, Thái Lan để như một nguồn an ủi, vỗ về và như một niềm tin cho những người dân tị nạn ở đây. Đích thực, đó là những con người đã mang Thông điệp của Chúa đến cho những con người đau khổ ở Việt Nam. Đích thực, đối với tôi, đó là những vị Bồ Tát đã hiện hữu giữa cõi đời này.

      Trong bầu trời đen tối của quê hương hiện nay, trước những tiếng kêu thống thiết đang từng ngày từng giờ vọng lên, những vị Bồ Tát như thế đã dạy cho chúng ta một bài học khẩn thiết: Hãy sống cho những con người đang đau khổ. Đây thực là bài-học-căn-bản-của-những-bài-học-căn-bản. Chính bài học này mới hóa giải được hết mọi bất đồng tư tưởng, mới cho ta vượt qua mọi ám ảnh của quá khứ và những ảo tưởng về tương lai bất thực. Cũng chính trong tinh thần của bài học này mà tôi xin chấm dứt bài viết ở đây và sẽ không thêm một lần nào nữa, trở lại vấn đề này trên mặt báo. Bởi vì, điều đáng nói trước hết và trên hết của mọi điều đáng nói, dù sao cũng không phải là quá khứ, cũng không phải là tương lai mà chính là cái hiện tại đang tràn ngập những đau khổ.

      Chúng ta có thực đang sống cho những con người đang đau khổ ?

  8. Cam oi ! Dung la loai vo cam,boi duoi mai hoc duong chu nghia cs,nhoi nhet vao dau con tre sau 75 voi nhung ly thuyet hoang tuong,chi biet tuyen
    truyen ve dang cs. Do la su dau doc o do tuoi con tho cho het thoi gian len
    dai hoc da tham nhuan tu tuong cs,sau dam va in sau vao tim oc.Do la duong loi chinh sach cua cs co hieu nghiem ,ghe qua !.
    Bay gio cs co noi huu noi vuon,ten CAM nay cung khong nghe,khi nao noi
    tot ve dang ve chinh quyen cs thi han Cam nay moi cho la dung. Con nguoi
    da co dong mau cs, cat bo oc va nao vet ma con chut bon dinh dan nam trong khoi oc,no van cs la cs,boi cai he luy nhoi so ,on duc tu nho.
    Nhin lai vu an cua CHHV hom ngay 2/8/11 vua qua. Toa an phuc tham
    lan nay cung chang khac san golf ,ca quan toa hun nhau lua trai banh,con
    luat su va bi cao khong mo mieng noi mot loi bien minh hay bao chua, Thu
    toa an nay giong nhu dua be ngoi ia ,ca dam ga xum nhau xoi boi ,roi cut
    vang tung toe,nao la bo phan tay chan cua cs nhao vo ngui !.The ky 21
    roi ma van khong dem lai nen van minh tien bo ti nao,cang tuot hau,thut lui
    xa . Nhung van cho la dinh cao tri tue,buon cuoi qua !
    Dang cs da dang gieo tham hoa cho dan toc va to quoc nhu vay ma Cam
    la giong nao ? noi nao ?. Dang noi chuyen LM Ly,dem chuyen dao doi lan
    lon,neu ngon sao khg doi dien cac cha cac thay ben cong giao ma van hoi,
    tuong tan ve giao ly ,thanh kinh . O day chi noi ve tinh than va dung cam
    cua Lm Ly,cha co dau tranh la chung cho toan dan ca nuoc. Trong do co gd cua Cam nua. va ca gd cua cs nua. Tau cong chiem VN khi toan quyen cai tri ,chung khg tha mot ai,dung nam mo. Hay nhin Tan cuong Tay tang,
    va Mong co ma lay do lam bai hoc. Mong cac ong cs som nghi cho que
    huong xu so dan toc VN chung ta. /.

  9. cong san viet nam hay tu bo trung cong ,ma quay ve voi dan toc .hay suy gam va tu hoi luong tam .tai sao ho la nhung nguoi hoc thuc va dia vi ,uy tin .nhung da tu bo tat ca de lam theo tieng goi cua kuong tam .tai sao trung cong bi the gioi len an .hay suy nghy ,se co cau tra loi cho 1 cuoc song thanh than ,an biunh .

  10. chung ta rat can nhung nguoi yeu nuoc nhu cha ly va anh cu h h vu .vi ho la nhung nguoi can dam dam quen minh cho quyen loi dat nuoc ,dan toc

  11. tinh than yeu nuoc cua cha ly ,nhat la lo cho nen doc lap cua dat nuoc truoc bon banh truong tham lam trung cpong .la tam guong cho nguoi yeu nuoc noi theo . neu biet khon ,cong san viet nam nen tha cha ra . do la quyen loi cua dan toc viet nam

  12. Thương Cam Lú Lẫn

    Thương Cam lú lẫn chửi càn
    Bảo ai tự sướng muôn vàn văn thơ
    Tràn trề lai láng trong mơ
    Tâm hồn thi sĩ dạt dào biển khơi
    Ngất ngây đến tận cổng trời
    Ngán nơi trần thế bồi hồi ngẩn ngơ
    Thái Chân Ngọc Nữ Tiên Nga
    Cùng nhau chén tạc chén thù thâu canh
    Đời thằng Cam lú ngộ sanh
    Tấm thân nhục thể Chí Minh lạc loài
    Nhân sinh thú cảm rối bời
    Theo nền đạo đức đười ươi vịt vờ
    Thằng Cam bệnh hoạn bơ phờ
    Không tim không óc còn đâu tình đời
    Mất đi cảm giác như người
    Cam thành cái máy đồ chơi bạo tàn
    Tâm thần bản chất dã man
    Mê man dục vọng lường gàn bất lương
    Thói quen việt cộng hay dùng
    Chà đạp nhân phẩm tình thương con người
    Sống như thú vật đười ươi
    Mà Cam cũng mộng mãi hoài văn thơ?

    8.8.2011 Lu Hà

    • Tức Sủi Bọt Mép

      Ra thế hắn miả mai cay cú
      Kẻ nặc danh chí choé diễn đàn
      Sinh ra phải buổi lăng loàn
      Hận thù giai cấp tiểu nhân căm hờn.

      Cùng bè đẳng chó săn hoạn lợn
      Học du côn bần tiện tôi đòi
      Cao lâu thuốc phiện Lào Kai
      Lạng Sơn Bắc Cạn cùng loài gian dâm.

      Vì bổng lộc miếng ăn trên hết
      Nhắm mắt theo chủ thuyết Lê Nin
      Giang mai bệnh lậu buôn dân
      Nhà sàn dép lốp ân cần tỉ tê.

      Hỡi đồng bào các cô các chú
      Trí điạ hào chuồng thú giam cầm
      Dân đen cải tạo nhà hầm
      Khảo tra đánh đập giết nhầm chẳng tha.

      Nhổ sạch cỏ đào mồ phá mả
      Cánh đồng hoang cỏ uá xanh tươi
      Dựng xây xương trắng tô bồi
      Tro tàn gạch vụn hơn mười ngày nay…

      Vấn lương tâm bàn tay đẫm máu
      Là tội nhân thiên cổ những ai
      Qua đi cũng một kiếp đời
      Nặc danh dấu mặt thảnh thơi giưã đời.

      Không óc tim sợ chi ai nhỉ
      Cả tập đoàn vô khối đảng viên
      Ba triệu hội họp liên miên
      Vượt qua sóng gió đảo điên đến cùng.

      Bao thế lực trùng dương biển cả
      Cứ biạ ra dối trá ai hay
      Hoà bình diễn biến muôn nơi
      Thông tin kiểm soát bắt người hiền lương

      Vì sự nhiệp chủ chương bán nước
      Vì tương lai từng bước buôn dân
      Lợi quyền cho đảng việt gian
      Nguyện thề sắt máu sát nhân ngọn cờ.

      Ban biên tập cớ sao khờ dại
      Không tuân theo chỉ thị đảng ta
      Văn chương để lọt Lu Hà
      Đọc sao mà ngán cơ đồ nước non?

      21.3.2010 Lu Hà

  13. Lu Hà,nhà thơ “tự sướng”!!!

    • Con cháu lão tặc HCM nen biết, nếu có tự sướng cũng không phải là một tội ác như hiếp dâm , đồi bại cả luân thường đạo lý. Chửi người tự sướng thế bản thân mình không biết tự sướng, hoặc giả vờ không biết tự sướng? Hay có máy móc hiện đại gúp sướng mà những tên công an cộng sản không cần tự sướng cũng đã sướng rồi. Không biết ăn cái gì mà nói ngu như vậy khi người ta làm thơ tôn vinh các đấng tinh thần giáo sĩ, thày tu thì lại bảo là tự sướng. Có lẽ người này tự nhận mình là con yêu râu xanh loạn óc mất rồi?

      Giặc Phá Trinh
      tư liệu cuả Lê Hùng và Nguyễn Thanh Ty

      Trong chiến dịch ngợi ca trùm đảng
      Hồ Chí Minh dâm đãng ai ngờ
      Hớ hênh mồng bảy tháng ba
      Đăng tin báo chí tỉnh nhà Nghệ An.

      Bọn cán ngố công an còn viết
      Báo thành Vinh:” kinh nguyệt đều không ”
      Bác Hồ tha thiết yêu thương
      Nhạt nhoà châu lệ quỷ vương hãi hùng…

      Công giải phóng thông đường sinh dục
      Có mấy ai bạo ngược như Hồ
      Hiếp dâm các cháu trẻ thơ
      Ba Đình hiệu bảng dâm ô công đường…

      Thật bi thảm vô cùng khủng khiếp
      Huỳnh Thanh Xuân bốn thập kỷ qua
      Viết bài tố cáo ma Hồ
      Phá đời con gái tuổi vưà mười lăm.

      Được mặt trận miền Nam giải phóng
      Đoá hồng lan tin tưởng gửi ra
      Con nai ngơ ngác ngẩn ngơ
      Lão già chực sẵn ào ào mây mưa…

      Hồ hung dữ lao vào như sói
      Giọng thều thào năn nỉ bên tai
      Bác cho cháu hạt giống này
      Miền Nam đỏ rực tương lai huy hoàng.

      Nay ba má tôi không còn nưã
      Chuyện xưa kia thảm hoạ ai hay ?
      Lành- Hoa các bạn chết rồi
      Mất trinh con gái ngàn thu oán sầu…

      Cũng bởi tại các cô các chú
      Quá u mê lãnh tụ Chí Minh
      Râu xanh ác quỷ trá hình
      Việt gian mãi quốc tan tành giang sơn!

      15.8.2010 Lu Hà

    • Xin tặng đồng chí công an ác ôn vô học, tự nhận mình là con yêu râu xanh:

      Công An Thủ Dâm

      Chống bán dâm mua dâm bằng mắt
      Băng ghi hình thảm thiết than ôi!
      Lao xao kià lũ đười ươi
      Công an cộng sản một bầy ma cô

      Hãy đứng dậy cho tao chụp ảnh
      Tên lưu manh mất dạy hét vang
      Thương em gái nhỏ trần truồng
      Giưã bầy hoang dại bi thương hãi hùng

      Chúng vờ vĩnh thi hành công vụ
      Trò thủ dâm chó má điêu ngoa
      Cha già dân tộc năm xưa
      Hại bao con gái đời hoa uá tàn

      Lũ chúng nó được phen kiếm chác
      Gần nưả giờ hưởng lộc trần gian
      Phơi bày tâm điạ dã man
      Coi thường nhân phẩm vô luân tồi tàn

      Chống bán dâm mua dâm bằng mũi
      Giọt mồ hôi nhớp nhuá đàn bà
      Cố tình cho máy chạy lâu
      Lạ thay chó dái ngây ngô vì tình?

      Chống bán dâm mua dâm bằng óc
      Trí tưởng nào thác loạn điên say
      Băng hình thu để cho ai?
      Thị trường dâm loạn công khai tiêu dùng?

      18.11.2010 Lu Hà

  14. Đối với người công giáo, tự do tôn giáo là như thế này:
    -Khi người công giáo kết hôn với một người theo đạo khác thì người này phải từ bỏ đạo của mình và đi học giáo lý (6 tháng đến 1 năm) để được rửa tội trở thành 1 con chiên công giáo.
    -Khi 1 đứa trẻ được sinh ra có cha hoặc mẹ là người công giáo, đứa trẻ này phải được rửa tội và trở thành 1 con chiên công giáo bất chấp việc nó có quyền tự do để chọn tôn giáo cho mình.
    -Khi 1 người trở thành con chiên công giáo, họ phải từ bỏ việc thờ phượng tổ tiên ông bà, dẹp bàn thờ gia tiên theo lệnh của Vatican (vì giáo lý dạy rằng người ngoại đạo chết đi là thành quỷ và bị đày xuống hỏa ngục, ko đáng được thờ phượng), đi đám giỗ thì ko được ăn đồ cúng ông bà (vì ông bà đã thành quỷ).
    -Con chiên công giáo chỉ biết có 1 quốc gia đó là Vatican, là đại diện của nước chúa ở trên trời, và 1 người cha đó là chúa ở trên trời mà các linh mục, giám mục là chúa thứ hai đại diện cho chúa ở trên trời. Các con chiên được dạy là phải “Yêu chúa hết cả trí khôn”, “mở rộng nước chúa”, “Quên mình trong vâng phục” cho dù có bị các cha lạm dụng tình dục (qua các cuộc xin tội, rửa tội), đóng góp tài chính để đưa về cho Vatican (tại vì tài sản làm ra là nhờ ơn chúa cho).

    • Trên thực tế những ai có theo đạo Thiên Chúa họ không có đi giết người, cướp của, chiếm đất, hoặc đánh đập người khác bắt họ đi theo, họ chỉ muốn tôn thờ Chúa của họ.
      Trong khi đó tại mấy nước theo cncs như VN thì cán bộ của csvn vừa ngốc vừa tàn bạo sử dụng đạo cộng sản ác độc hơn tất cả đạo trên thế giới rất nhiều. Bọn csvn bắt dân VN thờ những ác quỷ và tôn những ác quỷ lên như là thần linh, như ác quỷ Lenin, Stalin, Mao, Kim Young Il, Fidel Castro, và đặc biệt nhất ở VN có ác quỷ satan Hồ Chí Minh được lũ ngốc csvn thờ như thần!
      Tàn bạo, ác độc hơn, và ngu xuẫn hơn tất cả các đạo khác trên thế giới ở chỗ, bọn csvn nầy chúng nó sẵn sàng giết đồng chũng chỉ vì muốn ăn bo bo, cám lợn, gạo hẫm với súc vật của satan Nga Hoa.
      Sơ sơ trong lịch sử VN cũng gần nửa triệu dân Miền Bắc VN bị bọn quỷ satan HCM giết vào năm 1953 chỉ vì thằng satan Hồ Chí Minh muốn dân Miền Bắc VN thờ quỷ Stalin, Lenin, Mao … và ăn bo bo, theo chế độ tem phiếu dưới dạng Cải Cách Ruộng Đất.
      Đến thời điểm 1975 thì trên 3 triệu dân VN đã bị chết dưới tay bọn quỷ satan csvn nầy chỉ vì bọn csvn nầy muốn thờ những ác quỷ satan trên như satan Hồ Chí Minh.
      Sau 1975 cho đến nay, số người dân Việt nói riêng đã chết vì quỷ satan HCM vẫn còn tiếp diễn và vô số kể.
      Nói chung, chứng thờ quỷ satan của csvn, cs Tầu, cs Liên Sô và cs Đông Âu như Balan, Đức, Tiếp …, cs Bắc Hàn, cs Cuba … giống nhau ở điểm ngu dốt và tàn bạo, vì muốn thờ satan mà bọn cs đã giết trên 100 triệu người trên khắp thế giới. Và riêng tại VN, hiện tượng thờ quỷ satan HCM và giết người Việt, cướp của, cướp đất để tế quỷ satan HCM quỷ Mao vẫn còn đang tiếp diễn.
      Từ lúc lũ satan csvn thờ quỷ satan, những tên csvn thờ quỷ satan Hồ Chí Minh ngồi xổm trên đầu Phật, đầu Chúa. Bọn cán bộ satan csvn nầy mượn danh đểu nhà Phật, nhà Chúa để tự phong là thầy chùa, sư, tăng, ông cha, cha xứ …. Ấn tượng nhất là nhóm satan giao điểm thờ satan Hồ Chí Minh của Trần trứng ngốc.
      Từ 1954 cho đến 1975, những sư … cha … satan csvn luồn trôn cửa Phật hoặc nhà thờ đã chặt đầu, cướp của, giết người, làm khủng bố và đào cả mộ người chết để làm chỗ chôn dấu vũ khí, bom, đạn, đại bác để giết người Việt. Cũng có những tên sư satan csvn khác, với lòng dạ satan sẵn có, sẵn sàng tưới xăng châm lửa đốt một nhà sư khác khi biểu tình giống như làm Barbeque ngay tại phố Sài Gòn để phản đối chính phủ Miền Nam VNCH là Ngô Đình Diệm.
      Tóm lại, lịch sử nhân loại đã ghi nhận không đạo nào trên thế giới tàn bạo, giết người, và ngu xuẫn như đạo thờ satan Hồ Chí Minh, Mao, Stalin, Lenin, Kim Chính Nhật, hoặc Fidel Castro … he he he

      • “Trên thực tế những ai có theo đạo Thiên Chúa họ không có đi giết người, cướp của, chiếm đất, hoặc đánh đập người khác bắt họ đi theo, họ chỉ muốn tôn thờ Chúa của họ.” . Hồ Dâm Dật nên về đọc lại lịch sử các cuộc Thập tự chinh do Catô La Mã tổ chức đi đánh chiếm Jesusalem gây bao tội ác cho nhân loại. Lùn trí tuệ như vậy mà cứ đòi chỏ mỏ vào bình loạn. Đã ngu mà còn tỏ vẻ nguy hiểm….hehehe.

      • Diễn đàn này không phải là ” Võ đài Tôn giáo. ” CAM Việt Cộng sẽ không bỏ qua cơ hội này. Bạn đạo này, tui đạo nọ, người khác đạo kia. Tất cả sẽ bị ghiền nát đưới bàn tay sằt ” Đạo CS vô thần. ”
        Người có kiến thức khôn ngoan, kể cả các nhà độc tài, các chủ nghĩa, luôn tránh né, những vấn đề nhạy cảm về Tôn giáo.
        Hãy tự hỏi nguồn gốc tộc Bách Việt từ đâu, và con đường truyền giáo của các Tôn Giáo lớn ? Chúa Giêsu không thể sinh ra ở Á Châu và Phi Châu, Đức Phật cũng không thể sinh ra ở Âu Châu và Phi châu, nhà tiên tri Mohamed Hồi giáo cũng thế. Cho dù bạn đang ở bất cứ nơi nào trên Thế giới, bạn cũng không thể nào so sánh, Tôn giáo mà tôi đang theo, là Quốc giáo nguyên thủy..
        Nếu bạn có ý báng bổ đạo Hồi, coi chừng những chuyên viên vi tính Hồi giáo, sẽ truy lùng ra máy chủ. Điều chắc chắn là bạn không thể an toàn. Suy nghĩ cho kỹ, chấm dứt tranh luận vô ích. Hãy chuyển lửa về Quê hương, góp một bàn tay, hoặc vài lời đả Cộng, để sớm xóa sổ một Tôn giáo Quái gở, vô nhân tính ” ĐẠO CHỦ NGHĨA CỘNG SẢN VÔ THẦN. “

      • Khách nên cho biết số người bị Thiên Chúa Giáo giết có bằng 1 phần vạn của bọn cs giết hay không?
        Ăn bo bo gạo hẫm với súc vật Nga Hoa đã lâu nên suy nghĩ cũng giống như súc vật csvn! he he he

      • Bọn csvn theo vô thần nhưng hữu quỷ! Chẳng phải bọn nầy thờ satan Hồ Chí Minh hay sao?

  15. Cho Người Trần Gian
    Kính tặng linh mục Nguyễn văn Lý

    Nhìn Cha lầm lũi con thương
    Đời người mục tử bi thương não nùng
    Lần theo sân gạch nhà chung
    Hai tay chống gậy còng lưng dưới trời
    Đàn chiên dân chuá ngậm ngùi
    Thiên thần sầu cảm lệ rơi mấy hàng
    Thân hình tiều tụy võ vàng
    Tử thần rình rập bên giường bệnh nhân
    Cũng vì phản đối bạo tàn
    Mà Cha phải chiụ bao đòn khảo tra
    Đầu trâu mặt ngưạ côn đồ
    Vô thần hoang dã Mao – Hồ chủ trương
    Gây bao thảm cảnh đoạn trường
    Đầu rơi máu chảy quê hương giống nòi
    Hành hương theo bước Chuá trời
    Phúc âm thánh giá cho người trần gian!

    14.1.2011 Lu Hà

    • Chưá Chan Ân Tình
      Kính tặng Thày Thích Nguyên Tạng

      Bao muà con én đưa thoi
      Mà nay ngoảnh lại hai mươi năm rồi
      Phật Đà di tản trùng khơi
      Mênh mông biển lạnh rã rời não tâm
      Ra đi tức tưởi âm thầm
      Giọt sầu bi lụy tím bầm ruột gan
      Bởi vì bá đạo hung tàn
      Nỡ mang chủ thuyết bần hàn chúng sinh
      Con thuyền bát nhã lênh đênh
      Mây đen bao phủ u minh dập vùi
      Sắc màu Phật Giáo bi ai
      Lao đao pháp nạn u hoài sầu tư
      Cộng đồng hải ngoại Úc Châu
      Hành hương Phật Quốc cùng nhau lần hồi
      Góp quyên công sức tô bồi
      Cùng Thày Thượng Toạ ngậm ngùi thở than
      Khánh thành bảo tháp tứ ân
      Lòng người Việt Quốc chưá chan ân tình
      Con chim yêu khoảng trời xanh
      Quy y tam bảo đạo hành tha phương
      Trong nồi hạt đậu não nùng
      Khóc thương cành đậu bi thương lụi tàn
      Trách người nổi lưả tro than
      Giang sơn chìm đắm vô luân bạo hành…!

      18.4.2010 Lu Hà

  16. 9 kéc!ngán quá!

Góp ý, Thảo luận

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s